Hoàng Đế hỏi: “Nguyên tắc giao hợp theo
Tố Nữ là ái tinh, thương quý cái tinhkhí của mình, mà tránh xuất tinh, vậy thời
khi muốn có con thì phải làm nhưthế nào?”
Tố Nữ đáp: “Người ta thân thể cường nhược
khác nhau, niên tuế cũng trẻ giàkhác nhau cho nên người ta phải tùy theo khí
lực của mình mà giao hợp, khôngđược cưỡng quyết (bắt ép thân thể mình làm quá
sức chịu đựng của nó), cượngquyết tất tổn hại đến thân.”
Tốt nhất là:
• Ở vào tuổi 15 mà khí lực dồi dào mỗi ngày giao
hợp và có thể xuấttinh hai lần, ốm yếu thì mỗi ngày một lần thôi.
• Ở tuổi 20 cũng vậy, không nên nhiều hơn, nghĩa
là mạnh mẽ thì mộtngày hai lần, trong mình không được khỏe thì mỗi ngày một
lần.
• Ở tuổi 30 mà khỏe mỗi ngày một lần, người ốm
yếu thì hai ngày mộtlần.
• Ở tuổi 40 mà khỏe mạnh thì ba ngày một lần,
người ốm yếu thì bốnngày một lần.
• Ở tuổi 50 thì năm ngày một lần nếu khỏe mạnh,
ốm yếu thì mườingày một lần.
• Ở tuổi 60 mà khỏe mạnh thì cỡ mười ngày một
lần, ốm yếu thì haimươi ngày một lần.
• Ở tuổi 70 mà khỏe mạnh thì mỗi tháng một lần,
ốm yếu thì nênkiêng cữ không nên xuất tinh.
1. Sách “Ngọc Phòng Bí Kiếp” có ghi như sau:
Người ở tuổi 20 thường 2 ngày giao hợp một lần.
Người ở tuổi 30 thường 3 ngày giao hợp một lần.
Người ở tuổi 40 thường 4 ngày giao hợp một lần.
Người ở tuổi 50 thường 5 ngày giao hợp một lần.
Người ở tuổi 60 thì không bao giờ nên xuất tinh.
2. Một chỗ khác của kinh Tố Nữ có ghi:
Người 20 tuổi thường 4 ngày giao hợp một lần.
Người 30 tuổi thường 8 ngày giao hợp một lần.
Người 40 tuổi thường 16 ngày giao hợp một lần.
Người 50 tuổi thường 21 ngày giao hợp một lần.
Người 60 tuổi thì không nên bế tinh không nên
xuất tinh nữa. Nhưng lànếu thân thể quá mạnh khỏe, cường tinh thì một tháng
giao hợp một lầnvẫn được. Nếu đã đến tuổi này mà cò sung sức cũng nên giao
hợp,không nên quá kiềm chế. Con người thể lực khác nhau không đều, nếusung sức
mà quá kiềm chế thành ra mắc bệnh u uất, có hại hơn là xuấttinh khi giao hợp.
3. Sách “Dưỡng Danh Huấn” của ông Bố
Nguyên Ích Hiên cho rằng mộtđời người chỉ được phép giao hợp tối đa là 1.800
lần mà thôi. Con sốnày là căn cứ trên quan điểm (2) của sách Tố Nữ.
4. Mới đây người Nhật nghiên cứu trên con
người thời đại mới thì thấyrằng con số nói trên khác hơn nhiều. Bác sỹ Kim Soai
cho biết trungbình một người trải qua 55 tuổi thì cũng đã trải qua 3.831 lần
giao hợp.Tuy nhiên cũng có người cho rằng con số này vẫn quá ít, họ cho rằngkhi
một người đến 40 tuổi thì số lần giao hợp của họ đã ngang ngửa vớicon số do ông
Kim Soai đưa ra rồi.
5. Sự khác biệt của hai con số thật ra
không sai và cũng không khó hiểu.Người xưa giải quyết vấn đề theo nguyên lý âm
dương, tất cả do âmdương bảo tồn tinh khí (xúc nhi bất tiết), từ đó có một con
số về lầngiao hợp nhỏ, ít. Người thời nay theo nguyên lý thực tế mà tính, vả
lạingười thời nay cường tráng hơn người thời xưa, bệnh tật cũng ít hơn dođó số
lần giao hợp nhiều hơn. Một đàng thiên về “thể” (cái bản thể, căncơ của giao
hợp); một đàng thiên về “nhục” (cái thực tế, ước muốn củavấn đề giao hợp) cho
nên lý lẽ của bên là rất khác biệt nhau.
6. Một người Nhật tên là “Tiểu Lâm Nhất
Trà” ghi trong nhật ký của mìnhvề chuyện phòng sự của ông ta vì ông ta cưới vợ
vào năm 52 tuổi.
…8/8… Cúc Nữ về nhà, trời tốt, tối giao hợp 5
lần.
…12/8… Cúc Nữ về nhà, trời tốt, tối giao hợp 3
lần.
…15/8… Cúc Nữ về nhà, trời tốt, tối giao hợp 3
lần.
…16/8… Cúc Nữ về nhà, trời tốt, tối giao hợp 3
lần.
…17/8… Cúc Nữ về nhà, trời tốt, tối giao hợp 3
lần.
…18/8… Cúc Nữ về nhà, trời tốt, tối giao hợp 3
lần.
…19/8… Cúc Nữ về nhà, trời tốt, tối giao hợp 3
lần.
…20/8… Cúc Nữ về nhà, trời tốt, tối giao hợp 3
lần.
…21/8… Cúc Nữ về nhà, trời tốt, tối giao hợp 4
lần.
…22/8… Cúc Nữ về nhà, trời tốt, tối giao hợp 3
lần.
Cúc Nữ là vợ của “Tiểu Lâm Nhất Trà”,
nhật ký này ghi lúc ông 54 tuổi,nên nhớ lúc đó Cúc Nữ chỉ mới 28 tuổi.
7. Nhật Ký cũng ghi lại rằng Tiểu Lâm
Nhất Trà bị vô năng về tình dục(bất lực), nên ông dùng một thảo dược trợ lực.
Thảo dược đó gọi là”Dâm dương thảo”, thứ này có hiệu lực thúc đẩy, tăng cường
tính dụcvà tạo ra tinh trùng cho nam nhân. Về tác dụng của thứ thảo dược này
ởTrung Quốc người ta cũng đã biết từ lâu cho nên trong dân gian có câutục ngữ:
“kể cả con dê ăn phải thứ thảo dược này cũng lập tức muốngiao hợp ngay” (“Liên
liên khuất liễu dâm dương thảo, dã hội nhiệttrung ư giao tiếp”). Các kinh
nghiệm về thứ cây này cho biết tinh dịchsẽ biến thành đặc nếu người nào được ăn
loại cây này. Cho thỏ, chuộtăn dâm dương thảo thì chúng hăng hái sinh hoạt tính
dục không biếtmệt mỏi đêm ngày. Ngày xưa thứ cỏ này là thuốc kích dâm hạng
nhấtcho các bậc vua chúa.
Ở Nhật Bản, người Nhật Bản đã biết được dược
tính của loại cây này từlâu, họ chế thành một loại thuốc trợ dâm rất thông
dụng.Ông Thái Nhất Phan kể trong sách của ông về một chuyện người chăndê già
một hôm nhận thấy trong bầy dê có một con dê đực làm tình cảngày hàng trăm lần,
theo dõi nó người chăn dê thấy nó ăn một loại cỏ
đặc biệt mà mấy co dê khác không ăn. Ông ta mới
ăn thử kết quả làxuân tình ông trở nên phơi phới và đang yếu về tính dục ông
này bỗngtrở thành một người mạnh mẽ, chơi không biết mệt.
8. Tiểu Lâm Nhất Trà dùng dâm dương thảo để trị
tính vô năng của mình,nhưng ông cũng cho biết rằng dâm dương thảo cũng là thần
dược để trịbệnh già yếu suy nhược. Vì tính chất đặc biệt của nó loại thảo dược
này
được dùng để chế thuốc rượu đặc biệt dùng tăng
cường tính năng củangười uống thuốc gọi là “Tiên Linh Tì Tửu”. Đây là loại rượu
thuốc cănbản gồm dâm dương thảo nên còn được gọi là “Dâm Dương Tửu”.
9. Toa thuốc cường tinh cường tráng của Thái
Nhất Phan bao gồm:
• Dâm dương thảo : 20 mgr.
• Phục Linh : 10 mgr.
• Táo : 3 trái.
• Nước : 3 chén rưỡi.
Tất cả nấu trên lửa riu riu cho tới khi
còn lại một chén. Những thứ thuốckhác một gốc như kích dâm, thúc dâm, tiên linh
tỳ tửu đều căn bản trêntoa thuốc của Thái Nhất Phan với chút ít gia giảm.
10. Tiên Linh Tỳ Tửu:
Ba thứ dược liệu trên mỗi thứ được tăng
liều lượng lên gấp ba. Dùn lửariu riu chưng cách thuỷ cho tới khi ráo nước rồi
đem phơi khô. Đổ nướcthêm vô rồi đem chưng như trước, đoạn đem ra phơi nắng như
trước.làm như vậy tới lần thứ 3 thì được một chất khô quánh. Đem chất nàyngâm
trong rượu rồi thêm độ 100mgr mật ong rồi niêm phong lại, cấtvào tối độ một
tháng thì ta có loại tiên tửu nói trên.
TINH LỰC
MẠNH YẾU CỦA NAM
NHÂN
Thái Nữ hỏi Bành Tổ rằng: “Tinh lực của nam nhân
mạnh hay yếu có nhữngtriệu chứng gì để nhận diện?”
Bành Tổ đáp: “Khi nam nhân tinh thần sung mãn
hoặc tinh khí đầy đủ thìdương vật sẽ nóng bỏng, tinh dịch sẽ đặc kẹo lại, trái
lại khi tinh lực suy yếurồi thì các triệu chứng sau đây xuất hiện:
• khi xuất tinh thì tinh thần bị thương tổn
nghĩa là trong lòng buồnbực không thấy sung sướng mà cũng không thấy thích thú.
• khi tinh dịch bị loãng thì nhục thể bị thương
tổn, người bải hoải, bầnthần khó chịu.
• khi tinh dịch có mùi hôi hám thì gân cốt bị
thương tổn, sự bần thầntrầm trọng hơn và kéo dài hơn.
• khi xuất tinh nhưng tinh không thể xuất ra thì
xương cốt bị thươngtổn.
• khi tinh lực suy nhược đến nỗi không hứng nổi
thì thân thể đã bịthương tổn.”
GHI CHÚ:
1. Bình thường các tệ trạng này sinh ra
do sự giao hợp gấp rút, do tinhthần không ổn định mà giao hợp xuất tinh. Trừ sự
thương tổn nàykhông gì bằng giao hợp mà tránh xuất tinh. Trong một trăm ngày
khôngxuất tinh thì tinh khí sẽ tăng lên gấp bội.
2. Để cho thân thể không bị thương tổn
khi giao hợp phải từ tốn, chậm rãikhông cần phải mạnh bạo, cố duy trì thêm thời
gian giao tiếp để tăngthêm sướng khoái và tránh tổn hại tới thân thể.
3. Giao hợp nhiều bị đau lưng, nhức mỏi, sách
“Bí Quyết Ngọc Phòng” cóđưa ra cách chữa trị như sau:
• Đứng dựa lưng sát vô tường.
• Gót cũng thật sát tường.
• Mặt ngó thẳng về phía trước.
Tập như vậy lâu ngày thì sẽ có kết quả.
4. Người xưa còn dùng giao hợp để luyện sự tăng
cường thị lực. Cáchthức như sau: khi giao hợp đã đến lức gần xuất tinh thì:
• Mặt ngước lên hít thở.
• Thở ra một hơi dài.
• Mắt ngó xung quanh.
• Hít thóp bụng vào.
Luyện tập cách này thì tinh khí thay vì xuất ra
mất thì sẽ trở lại vàotrong cơ thể chạy tuần hoàn trong con người ta.
5. Phương pháp luyện thính tai cũng dùng các
cách trên, chỉ thêm vàocách cắn răng – cắn chặt hai hàm răng trên dưới với nhau
– làm cách nàyvì răng với thận có liên quan tới nhau. Khi thận được luyện tập
(không
xuất tinh khi giao hợp) thì răng được cường
kiện.
6. Đa số nam nhân có mặc cảm là mình bị
bệnh tảo tinh (bắn khí sớm). Từmặc cảm sang lo âu và cảm thấy mình không làm
tròn bổn phận. Thậtra đó không phải là một chứng bệnh, đó chỉ là một sự sai
khiến khôngđồng bộ khi giao hợp mà thôi. Không đồng bộ khi người nữ chưa
đạtđược cao trào sướng khoái mà mình thì đã “thôi” rồi. Trừ bệnh này thìcố gắng
quan sát người nữ, cố gắng theo, thương yêu vợ hơn, học thêmkinh nghiệm…
7. Khi giao hợp thì thời gian hai cơ quan
sinh dục tiếp xúc nhau phải làbao lâu mới đúng không bị coi là “yếu”, là bệnh?
Vấn đề này thật rakhó có chân lý. Lâu mau là tuỳ theo người, tuỳ theo hoàn
cảnh, tuỳ theohoạt động của đại não của người đàn ông. Căn cứ theo thông thường
thìthời gian ít nhất phải là một phút và trung bình thì kéo dài ba phút.Người
mạnh thì có thể kéo dài đến 10 phút, thậm chí có người duy trìđến nửa giờ.
8. Còn một điểm mà nhiều người mắc phải
là tưởng rằng mình tảo tinh khithấy quy đầu tiết ra chất nước nhờn. Chất này
thật ra công dụng giúpcho việc giao hợp dẽ dàng mà thôi, người Trung Hoa gọi là
nước hứngthú. Nữ nhân khi thấy nước này tiết ra thì phải hiểu là chưa gì hết
đểkhông kết luận rằng bạn của mình không làm ăn gì được. Không, anh tavẫn hành
sự được như thường, hay hơn nữa là khác.
9. Da quy đầu của dương vật khi con trai
mới sinh ra thì bọc bao quy đầulại. Từ lâu ở các nước Đông Phương không có lệ
cắt da quy đầu đểtrình quy đầu ra, trong khi nhiều quốc gia khác có lệ này từ
lâu. Đây làvân đề vệ sinh mà cũng là chuyện tình dục nữa. Nếu da quy đầu đãđược
cắt thì quy đầu lộ ra ngoài cọ sát với quần áo thường xuyên, từ đósự cảm ứng
“không dễ dàng” vì vậy khi giao hợp cần phải kích thích tớimột mức độ nào đó
mới hứng tình, sự tảo tinh như vậy không có dịpxảy ra. Cắt da quy đầu là điều
cần thiết. Thanh niên nào đã lớn màthằng nhỏ chưa mở mắt thì nên đến bác sĩ cắt
cho mở mắt để khỏi dơ vàrắc rối khi giao hợp.
10. Sự tảo tinh nhiều khi do vấn đề tinh
thần. Hoặc nam nhân bị tật thủ dâmkhi còn nhỏ nên khi giao hợp thật sự với nữ
nhân trong lòng vẫn cảmthấy mình không làm tròn phận sự hay là mình không thấy
sướng khoáibằng khi làm một mình với sự tưởng tượng về một người đàn bà nàođó.
Hoặc do nam nhân bị một ám ảnh nào đó khiến anh ta sùng thượngquá mức nữ nhân
hay quá khinh thị phụ nữ. Cả hai đều làm cho ngườinày không thể có sự đồng bộ
với nữ giới khi giao hợp vì sẽ hứng tìnhcao độ hay sẽ bị dửng dưng.
11. Tảo tinh còn do nhiều nguyên nhân khác. Có
thể hoàn cảnh chỗ giaohợp không thuận tiện sợ thiên hạ thấy phải làm cho gấp,
sợ thiên hạnghe tiếng động… Sự lo sợ này ảnh hưởng lên tinh thần. Có thể do
sựlãnh cảm của người nữ. Có thể do sự mất lòng tin rằng là mình đượcchuyện. Mặc
dù vì lý do nào đó, sự chữa trị cần có chuyên gia phân tíchtìm ra nguyên nhân
thì mới trị dứt được. Nếu là nguyên nhân tự ngườitrai thì chính anh ta phải đặt
kế hoạch để giải quyết, vì đó là hạnh phúcgia đình của chính anh ta. Cần phải
có ý chí và tự tin để cho vợ chồng
cùng đạt đến cao trào một lúc. Nếu cần thì khi
người vợ gần đạt caođiểm nên báo cho chồng biết để anh ta tuỳ cơ mà hành sự
chậm hơn haygấp rút hơn, nếu cần thì phải thay đổi vị thế giao hợp hay ngưng
nghỉmột chút.Có người nghĩ rằng để cho nữ nhân chờ đợi thì nàng sẽ mất hết
hứngthú, thật ra không phải vậy. Sự chờ đợi này càng làm cho nữ nhân thêmhứng
tình và bắt đầu lại dễ dàng cùng đạt cao trào hơn miễn là đừng đểcho sự ngừng
đó quá lâu.Có cách trừ xuất tinh sớm là “đâm nhẹ nhẹ vào, rút ra mau”, cử chỉ
nàycứ thế mà tiếp diễn, sự kích thích theo lối này sẽ làm cho người vợ gọi hứng
mạnh khiến cho hai đàng cùng đồng bộ đạt đến khoái cảm. Rút ra
mau dễ trượt dương cụ ra khỏi âm đạo, tốt nhân
nên canh để cho chuyệnnày đừng xảy ra.Cách khác là dùng quy đầu kích thích nhẹ
ở ngoài âm đạo cho đến khihai bên cùng sắp đạt đến hứng mới cho thằng nhỏ chui
vào “động tiên”.
Cả hai phương pháp này tuỳ theo sở thích
của ta mà dùng đều có hiệuquả kéo dài thời gian xuất tinh tránh được tệ nạn tảo
tinh.
12. Bình dân Trung Hoa có câu:”Nữ giới
cần một nam nhân khi giao hợpthì giống như dê, như chó con, như mãnh hổ thì mới
thật thoả mãn”.Giải thích câu nói này là phải làm đi làm lại nhiều lần như dê,
phải thânmật như chó để liếm chân nàng, phải hùng hục mạnh bạo như mãnh hổkhi
vào điểm cuối của cuộc giao hoan, nghĩa là khi dứt điểm phải thậtnhanh gọn.
13. Ngoài bệnh sớm xuất tinh còn có bệnh
chậm xuất tinh, đây là bệnh ítthấy nhưng vẫn có. Người mắc bệnh này làm thất
vọng nữ nhân vôcùng. Khi nàng đang đạt đến cao trào, hy vọng chàng sớm hoàn
thànhnhiệm vụ, bắn tinh để kết thúc thì chàng lại không làm được. Nên nàngphải
chờ, từ chờ đến miễn cưỡng, miễn cưỡng tiếp tục nên chán nản,chán nản nên thất
vọng, thất vọng nhiều lần sẽ thành đau khổ. Chậmbắn tinh quá cùng là một mầm
phá hoại hạnh phúc gia đình.Nhắc lại là sự chậm bắn tinh tuy có ít nhưng nếu ai
gặp nên tìm cáchchữa trị ngay vì trước sau gì tình trạng này cũng đi tới tình
trạng vônăng (bất lực).
14. Sớm chậm bắn khí có thể dùng cách thế
giao hợp, kỹ thuật giao hợp màchữa trị, nhưng phần lớn vẫn là do sự điều khiển
của đại não của ngườinam. Khi thấy vật lộn đã lâu, độ một giờ mà nam nhân chưa
đạt đến caotrào hay cảm thấy sướng khoái mà không thể bắn tinh ra thì nên
nghĩlàm lại vì người chồng đã bị chứng chậm xuất tinh.
THỜI GIAN
GIAO HỢP TỐT ĐỐI VỚI NỮ NHÂN
Hoàng Đế hỏi: “Có người muốn sanh con và
muốn có một đứa con thông minhmẫn tiệp, vậy có phương pháp gì giúp đạt thành ý
nguyện không?”
Tố Nữ đáp: “Có những nguyên tắc để được
có con. Nguyên tăc đó là thân thểnhẹ nhàng, thân tâm bình thản, không lo âu, áo
quần ăn mặc tề chỉnh, thànhtâm trai lạt trước thời kỳ có kinh. Khi kinh kỳ xong
xuôi đợi ba ngày sau thì làthời gian tốt nhất để giao hợp. Trước tiên nam nhân
phải rờ rẫm tạo hứng khởitối đa cho người đàn bà. Khi giao hợp thì cứ theo
nguyên tắc của việc phòngtrung mà thực hành nghĩa là phải “cộng đồng hưởng
thụ”, cuộc giao hợpkhông phải là mua vui cũng không phải là miễn cưỡng làm cho
có.
Khi xuất tinh xong nam nhân phải ngâm
trong bộ phận nữ nhân, không đượcrút ra liền. Sự kiện này ngoài khả năng làm
thoả mãn tâm lý nữ nhân còn giữcho tinh trùng không theo âm đạo thoát ra ngoài
hay chạy xa ra ngoài đầu tửcung. Theo cách này thì đứa con sinh ra sẽ thông
minh, đĩnh ngộ, mạnh khoẻ,sống lâu…”
GHI CHÚ:
1. Ý kiến trên của Tố Nữ phù hợp với lời
dạy của Ông Bành Tổ: “Đàn bàđếm từ ngày có đường kinh đến ngày thứ 15 là thời
gian tốt để thụ thai,đứa con sinh ra do trường hợp này rất thông minh, sáng
suốt lại làngười có nhân dáng cao quý”. So với ý kiến của Tố Nữ, ý kiến củaBành
Tổ lại có ngày giao hợp lý tưởng để thụ thai hơi xa. Y khoa hiệnđại cho rằng ý
kiến của Tố Nữ khả dụng hơn.
2. Sách thuốc Trung Hoa nhấn mạnh đến giờ
thụ thai lý tưởng là giờ Tý(mười một giờ khuya đến một giờ sáng) hay giờ Sửu
(từ một tới ba giờsáng). Khoảng thời gian này Can mạch (mạch liên quan tới Gan)
hoạtđộng, trong các mạch đó có mạch nối với cơ quan sinh dục làm cho sựgiao hợp
dễ thoải mái và lâu. Can mạch hoạt động lên đến tuyệt đỉnh làlúc hai giờ sáng,
vậy nếu có thể được nên canh vào lúc này mà xuấttinh.
3. Kinh Tố Nữ cũng có nhắc là khi giao
hợp để thụ thai thì dương cụ đâmvào âm đạo nên nhẹ nhàng từ tốn sự thụ thai mới
dễ thành tựu. Khôngthấy Tố Nữ đưa ra lý do biện minh cho lời khuyên, rất có thể
là kinhnghiệm của người xưa trong khi quan sát cuộc phòng trung sinh hoạtchớ
chưa đưa ra được nguyên tắc.
LÀM SAO
CÓ THAI TỐT
Tố Nữ nói: “Con người muốn phù hợp đạo âm
dương phải biết tránh nhữngcấm kỵ và phù hợp với đạo âm dương thì có được khí
thế tốt nhất để sinh racon mạnh khoẻ sống lâu.”
GHI CHÚ:
1. Khí thế tốt nhất là Nam Nữ phải ở vào tuổi
sung mãn, còn trẻ. Nếu lớntuổi thì dầu cho có thụ thai thì đứa trẻ sinh ra cũng
không mạnh mẽsống lâu được.Khí thế tốt nhất là để giao hợp mà sinh ra con cái
là kiện toàn, mạnh
khoẻ. Một cặp vợ chồng trẻ mà thân thể không
khoẻ mạnh khi giao hợpnếu thụ thai đứa con sinh ra cũng èo uột, ốm yếu, người
say rượu màlàm tình thì đứa con sanh ra nhiều bệnh tật.
2. Kinh Tố Nữ không nói thẳng rằng tuổi
tác là một vấn đề trong việc sinhcon mạnh khoẻ nhưng cuốn “Bí Kiếp Ngọc Phòng”
cho rằng nam nữluống tuổi thì sinh con ra yểu mệnh.
3. Một trong hai người còn trẻ thì vẫn sanh con
được. Nam
nhân dẫu 80tuổi cưới vợ 18 tuổi vẫn sanh được con như thường. Nữ nhân dầu đãhơn
50 có chồng sung sức, trẻ mạnh vẫn thụ thai và sinh con như người
còn trẻ.
4. Tài liệu còn ghi một vị quản trường ở
Nhật vào năm 76 tuổi lấy một côvợ trẻ mới có 23 tuổi tới khi ông ta được 86
tuổi thì người vợ sanh conđầu lòng.
TẠI SAO
SẮC ĐẸP LÀM NGƯỜI SAY MÊ?
Hoàng Đế hỏi: “Tại sao sắc đẹp nữ nhân làm cho
nam say đắm? Yếu tố gìtrong đó làm cho con người đắm say?”
Tố Nữ nói: “Các yếu tố để làm say đắm nam nhân
do trời phú riêng cho nữnhân đó là:
• Tiếng nói ngọt ngào.
• Tính nết dịu hiền.
• Đầu tóc trơn láng, đen huyền.
• Thịt da trắng, mềm.
• Xương cốt yểu điệu mãnh mai.
• Thân hình thon dẽ vừa tầm.
• Âm hộ không có lông dài mà tinh dịch dồi
dào.Các nàng có những điều kiện này mà ở vào tuổi chưa quá 30 thì gọi là đầy
đủcác yếu tố hấp dẫn nam nhân.
Ngoài ra trong khi giao hợp nữ nhân nào
có nước nôi linh láng. Thân hình biếtuốn éo chuyển động. Mồi hôi đượm ra và
biết để cho nam nhân chủ động dìuvào cuộc hoan lạc nam nhân không bị mệt nhọc
khi giao hợp thì rất được ưathích.”
GHI CHÚ:
1. Các điều Tố Nữ đưa ra về một người con
gái thu hút nam nhân quá rõràng ta không thể thêm thắt gì nữa. Nếu thêm vài yếu
tố nữa thì cũng làthêm vào vài chi tiết mà thôi.
2. Kinh nghiệm người xưa thường nói, đàn
bà có nhiều dâm tính, thì âmhộ có lông dài không thì xem lông và lông tay lông
chân, các thứ nàycó quan hệ song phương với nhau. Hễ ngoài dài thì trong dài.
3. Trung Hoa xưa thường điều tra lông âm
hộ bằng cách coi lông nách củanữ nhân. Nếu lông nách mịn màng không xoắn tít
thì ta có một ngườiđàn bà cao sang.
4. Tóc cũng là yếu tố quan trọng. Nếu tóc
nàng hun hun đỏ thì giao hợp sẽtổn hại tinh lực của nam nhân.
5. Âm thanh của giọng nói cũng là yếu tố khác.
Tiếng nói ngọt ngào, êmdịu nhẹ nhàng là điều làm cho nam nhân đạt được sung
sướng khi giaohợp mà không bị mệt mỏi ốm yếu, không hao tổn tinh khívà còn được
sống lâu.
6. Sách “Tạp sự bí tân” có ghi các tiêu
chuẩn chọn phi tần của vua HậuHán, ghi cả kích thước lý tưởng của tất cả các bộ
phận từ mông, đùi,tay, chân, vai đến ngón chân ngón tay. Tất cả thước tất này
thiết nghĩngày nay người thường chúng ta không thể nào chọn lựa được nên
dịchgiả miễn không ghi chép lại đây.
7. Sách về thuật phòng trung hiện đại đưa
ra lý thuyết rằng các phép tutiên ngày xưa chẳng qua các phép về hưởng lạc
trong nghệ thuật giaohợp của người xưa mà thôi. Sách tiên đạo có nói rằng nam
nhân có mộtloại dương khí đó là “biến một mỹ nhân thành một nữ nhân khi nữ
nhânđó được ưa thích.” Không được nam nhân ưa thích người đàn bà chỉ làngười
tầm thường. Theo cổ thư thì người xưa khi chọn đối tượng giaohợp họ dựa trên
những tiêu chuẩn sau:
• chân mày xanh (mi thanh).
• cặp mắt đẹp (mục tú).
• đôi mi đỏ (thân hồng).
• hàm răng trắng (xỉ bạch).
8. Bàn về chân mày cổ thư có nhiều ý kiến
thú vị:
• Đàn bà có chân mày hình chữ rất kém cõi
trong sự giao hợp, kỹthuật của họ tầm thường không đem lại sự khoái lạc cực
điểm chongười giao tiếp.
• Đàn bà mà có chân mày mà hai đầu có
khoé nhăn thi thể lực khôngcòn mạnh mẽ nữa nếu không nói là suy yếu.
• Đàn bà có chân mày rậm là người thiện
nghệ trong việc phòng the,đem đến cho sự hoan lạc khôn cùng, đàn ông chết mê
chết mệt vìnhững người đàn bà như thế này. Mày đậm được gọi là mày xanh(thanh
mi).
9. Mắt: Mắt đàn bà mà con ngươi hướng
lên, cặp mắt làm cho nam nhânnhìn vào tiêu hồn lạc phách thì kêu là mục tú là
những người là chothân thể nam nhân suy nhược, cần phải cẩn thận khi giao tiếp.
10. Môi: Môi đỏ như huyết hay đỏ tía là
những người đàn bà làm cho đànông si mê, tâm hồn dễ rối loạn không tự chủ được.
Nữ nhân có cặp môihồng là cường kiện dồi dào sinh lực.
11. Răng: Răng trắng là người có nhiều
dương khí. Răng và mông có liênhệ với nhau. Răng trắng thì mông nở. Người phụ
nữ răng không đẹpchứng tỏ tình trạng sức khoẻ suy, bệnh hoạn và việc phòng trung
khôngdồi dào nữa.
12. Sách “Nhục Bồ Đoàn” trái lại không
chú trọng mấy đến các chi tiết mi,mắt… kể trên mà chỉ là những người bình
thường nhưng trẻ trung tươimát là được (bình phàm nhi tân tiển). Điều cần thiết
là thông thạonhững kỹ xảo của thuật phòng trung.
13. Có một người nữ rất thông thạo việc
phòng the, tương truyền nàng thụđắc chân truyền từ Vị Ương tiên sanh một câu
châm ngôn: “Trước tiênphải xem hình (Vẽ sự giao hợp), sau đó vừa thực hành đạo
lý âm dươnggiao tiếp (nam nữ), vừa đọc sách vừa nghe những tiếng động (do
giaohợp phát sinh ra)”.
Phải xem thật nhiều hình ảnh để hứng nổi
lên thật cao, không nênthượng mã ngay, chỉ lên khi thật hứng không còn kềm chế
nổi. Trongkhi đâm rút cũng đọc sách và nghe những âm thanh tính dục để đến
khihứng tràn mới vận động thật sự. Nhiều khi phải nghỉ trên lưng ngựa, cứđể nó
ngâm trong âm đạo và tiếp tục đọc sách.
Chuyện của Vị Ương và Hoa Thần chỉ là
chuyện trợ thêm cho việc giaohợp hứng hơn mà thôi.Hiện đại người ta sử dụng
thêm phim ảnh, dụngcụ kích thích, âm nhạc tiếng động cũng trong nhiều hướng của
HoaThần.
CÁCH HẠN
CHẾ XUẤT TINH
Đây là chương nói về điều hòa tinh khí,
tiết khí mà vẫn có giao hợp. Con ngườivẫn là bị ám ảnh bằng cái sợ quan trọng
là bị hao phí tinh dịch. Vì vậy nên phảibão tồn nó và hấp thụ thêm phần bổ
dưỡng của đối phương. Nhờ hai cách thếnày, con người tránh được tuổi già.
Sách “Bí quyết ngọc phòng ” có nghi:
• Tuổi 20 có thể giao hợp và xuất tinh hai ngày
một lần
• Tuổi 30 có thể giao hợp và xuất tinh 3 ngày
một lần
• Tuổi 40 có thể giao hợp và xuất tinh 4 ngày
một lần
• Tuổi 50 có thể giao hợp và tinh 5 ngày một lần
• Đã đến khi tuổi 60 dù có giao hợp cũng không
nên xuất tinh nữa.
Khi Hoàng Đế hỏi về số lần xuất tinh của
một đời người thì Tố Nữ trả lời là “sốlần căn cứ trên:
• sức khoẻ
• tuổi tác
• khí lực của người đó
Cho nên không thể có sẵn một con số nhất
định được.”
GHI CHÚ:
1. Hoàng Đế trong cung có một ngàn hai
trăm cung nữ, nên thuật phòngtrung vô cùng thông thạo. Trong các yếu tố nói
trên yếu tố tuổi tác làquan trọng nhất vì tuổi tác kéo theo kết quả cùng khí
lực. Đàn ông tớikhi 60 tuổi thì tinh ít dần cho đến khi 70 tuổi thì chỉ còn một
phần ba sovới khi mình vào lúc 30 tuổi. Vì vậy kiên cữ xuất tinh lúc 60 tuổi
làđiều vô cùng hợp lý.
2. Bác sĩ Kim Soai cho rằng đàn ông 75
tuổi ba tuần mới giao hợp mộtlần. Khi đến 80 tuổi thì hai tháng mới nên lâm
trận. So sánh với kinh TốNữ thì có sự khác biệt. Điều này dễ hiểu vì có sự biến
chuyển của đờisống con người qua thời gian. Con người từ lúc kinh Tố Nữ xuất
hiệnđến nay đã mạnh hơn về nhiều phương diện, nhất là phương diện sứckhoẻ.
3. Sách vở có ghi triết gia Hy Lạp
Socrate giao hợp cách mười ngày mộtlần. Trong khi đó đạo cơ Đốc ghi là nên mỗi
tuần một lần thôi. Hai consố này khác nhau và lời khuyên lại không căn cứ trên
tuổi tác của conngười, một vấn đề quan trọng mà kinh Tố Nữ có nói.
4. Sách “Dưỡng Sinh Yếu Luận”, một quyển sách
của đạo gia có ghichuyện đạo sĩ Lưu Kinh.
• Mùa xuân 3 ngày giao hợp có xuất tinh một lần.
• Mùa hạ, mùa thu thì một tháng hai lần
• Mùa đông không nên xuất tinh.
Lưu Kinh cho rằng sinh hoạt phòng trung
tuỳ theo mùa mà phù hợp vớisinh hoạt của thiên nhiên. Nguyên tắc của thiên
nhiên là “Xuân xanh Hạtrưởng, Thu liễm, Đông tàn”. Mùa Đông thì thu về, tàng
trữ, không chora vì không thể sinh sôi nẩy nở được. Quan niệm giao hợp liên hệ
vớimùa trong năm chỉ thấy ở đạo gia mà thôi.
5. Sách “Dưỡng Sinh Tập”cũng có ghi tương
tự như sách “Dương sinhyếu luận”chỉ thêm một điều là:”Mùa Đông xuất tinh một
lần bằng mùaXuân xuất tinh một trăm lần”vì mùa Xuân dương khí hạnh mậu, sungmãn,
trong khi đó mùa đông là mùa của âm khí. Đáng lẽ mùa này nêntránh giao hợp để
phù hợp với thiên nhiên.
6. Sách “Động Huyền Tử”nói rằng phải bão
tín và bão tinh nên trong khigiao hợp thì phải quan sát nữ nhân một cách cẩn
thận. Đừng quá chútrọng đến tiết giảm xuất tinh mà quên đi sự hoan lạc của phái
nữ. Cầnphải cho hai bên cùng đạt đến cực đĩnh mà vẫn tiết tinh thì mới
tốt.Nhưng làm thế nào để đạt tiêu chuẩn đó? Sách đưa ra phương pháp nhưsau:
• Dương vật đâm nhè nhẹ, không xốc nỗi, không
hùn hụt.
• Chỉ đâm cạn vùng âm hạch và thành âm đạo không
cần lút cán tớiđầu tử cung.
• Nhắm mắt dưỡng thần trong khi đâm rút
• Cong lưng, cúi đầu.
• Nở rộng lổ mũi.
• Mở rộng hai vai ra
• Ngậm miệng hít hơi vào buồng phổi, càng hít
vào nhiều càng tốt.
Nếu áp dụng phương pháp này mà vẫn xuất
tinh thì chỉ xuất tinh baphần mười tinh dịch mà thôi. Như vậy cũng đạt được
khoái lạc đồngthời vẫn đạt được nguyên tắc tiết giãm tinh khí (tiết tinh).
7. Ta thấy đây chỉ là phương pháp hô hấp.
Thực hành phương pháp hô hấpthì thần kinh điều khiển sự xuất tinh không còn
hoạt động hữu hiệu nữa,ngày nay người ta dùng nhiều phương pháp này.Nhưng điều
quan trọngnằm ở chỗ vừa luyện tập vừa tự tin. Luyện tập thuần thục vì đây là
tậphợp của nhiều động tác chống lại một phút tràn trề của cơ thể. Có ý chíđể
tin rằng mình thắng cơ thể mình, mình làm được chuyện đó.
DƯỢC LIỆU
VÀ TOA THUỐC CƯỜNG DƯƠNG
Nguyên tắc chủ điểm của thuật phòng trung
“dĩ nhân bổ thân” hay “dĩ nhân trịnhân” nghĩa là áp dụng nghệ thuật thế nào có
thể hút tinh khí của người đanggiao hợp với mình để bảo tồn mình. Nguyên tắc
này không thích đáng với sinhlý, bởi vậy để bổ khuyết người đời dùng thêm dược
liệu để bổ tinh.Ngày xưa người ta có thể áp dụng những điều mà con mắt ngày nay
có thể coilà dị đoan. Bỏ đi yếu tố này, dược liệu và những toa thuốc đưa ra
trong kinh TốNữ có thể dùng như những toa thuốc bổ tinh cường dương rất tốt.
Thái Nữ hỏi: “Đạo giao hợp ta đã nghe, đã
biết, ta cũng biết rằng muốn dưỡngtinh cần phải phục dược (uống thuốc) vậy thì
dùng những dược liệu nào thì cóhiệu quả?”
Bành Tổ đáp: “Nếu muốn cường tráng, trẻ
mãi không già, việc phòng sự vuithú mãi mà không mệt mỏi, khí lực và dung mạo
lúc nào cũng sinh tươi khôngsuy giãm thì dùng nhung lộc (sừng nai) là tốt
nhất.”
GHI CHÚ:
1. Đơn thuốc dùng sừng nai như thế nào ?
Lấy sừng nai cưa ngang cho bằng mặt, mài thành
bột rồi thấm vào sanhphù tử (loại hình bát giác). Mỗi ngày dùng hai lần, mỗi
lần dùng mộtmuỗng canh. Kết quả trông thấy trong một thời gian ngắn độ hai mươi
ngày.
Để cho đơn giản người ta chỉ dùng sừng
nai không mà thôi. Đem sừngnai đốt tới khi sừng trở thành màu vàng thì cà ra
thàng bột, mỗi lầndùng thì pha vào nước. Dùng cách này thì cũng có hiệu quả
nhưngchậm, không thể mau như cách dùng sanh phù tử.
Người ta còn dùng phục linh sản xuất tại
tỉnh Cam Túc bên trong TrungQuốc thêm vào bột sừng nai, mỗi thứ một dung lượng
ngang nhau. Mỗingày dùng ba lần, mỗi lần dùng một muỗng canh. Kết quả cũng rất
khảquan.
2. Sách xưa cũng ghi cách chế và công
dụng của sừng nai theo lời chỉ dẫncủa Thái Nữ.
• Sừng nai muốn loại tốt thì phải lựa thứ sản
xuất ở miền Bắc TrungHoa. Loại nai con có sừng mới nhú màu đỏ, sừng loại này
kêu là lộcnhung, lộc nhung thì hữu hiệu vô song. Các loại khác không thể
nàosánh bằng.
• Các bộ phận khác của nai cũng có công những
dụng cho cườngdương, tráng tinh: thịt nai, máu nai, bào thai nai con trong
bụng,gân, đuôi, dương vật đều là những thứ có tác dụng.
3. Vua chúa xưa ở Trung Hoa thường ưa
dùng thịt nai. Sách Tiền Hán thưchép Hán Cao Tổ mỗi ngày hai lần sáng chiều ăn
bao tử nai (lộc tì).Ông cho rằng ăn thứ này làm cho con người mạnh mẽ hăng hái,
khi”lâm trận” không khi nào chiến bại. Đối với Cao Tổ thứ bao tử nai làthứ bổ
dược cường dương vô địch.
• Dương vật nai thì phải cắt thật xa lên tận
ngọn, cắt cả sợ gân trongmình nai chớ không phải chỉ phần ngoài cùng của dương
vật màthôi. Đem sợi gân đó thái ra từng miếng mỏng phơi khô dùng làmmồi nhắm
rượu.
• Huyết nai thỉ phải lấy kim chích nơi đầu sóng
mũi của nai để máuchảy ra mà hứng. Thêm vào máu này nhân sâm, pha thêm chút
rượucho đễ uống. Mỗi ngày uống một chung nhỏ. Có thứ thuốc này thìmỗi ngày
“trèo đèo” một lần vẫn không thấy mệt.
4. Trong giới săn bắn còn tương truyền là
ăn thường thịt nai và uống máunai thì mỗi ngày giao hợp và xuất tinh hai lần mà
vẫn không thấy hềhấn gì, vẫn mạnh khoẻ như thường không mệt mỏi. Sách Nhật có
chépchuyện một người thợ săn ở vùng Bắc Hải đảo có cả thảy mười mộtngười vợ mà
tất cả đều ly dị lý do vì ông ta rất mạnh trong việc giaohợp, các bà lần lần
rút lui, vì không sao chịu nỗi sự đòi hỏi của ông ta.Họ huảng sợ về sự cường
dương vô địch, có thể lên bất cứ lúc nào củaông ta.
5. Bên trong có nói dùng sừng nai với
sinh phù tử. Sinh phù tử là một chấtđộc, nhưng phối hợp với lộc nhung hay phục
linh thì không còn độcnửa mà còn bổ dương cường tinh.
6. Quan niệm của Trung Quốc về thuật
phòng trung là tự ta là cho ta mạnhtinh cường dương, không ai sinh ra đời mà
sinh lý tự nhiên mạnh. Phảitập luyện, phải dùng đúng thuốc, phải theo những
cách điều chế đượcchỉ dẫn. Bành Tổ nói dùng dược liệu là trong ý nghĩa đó.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét