Chương này nói về các vị thế cơ bản khi
giao hợp. Cũng là đại khái ba mươi vịthế cơ bản, những biến thể nho nhỏ không
được kể như một vị thế,
1. CHÍNH THƯỜNG VỊ (Vị thế cơ bản)
Nữ nằm ngữa, hai chân dang ra, không cần
bẹt lắm. Nam
nhân nằm sấpbên trên. Hai đầu gối và hai cùi chỏ chống lên giường để nâng đỡ
sứcnặng khỏi đè lên bạn ngọc. Vị thế này căn bản là hai đùi nam nhân ởgiữa hai
đùi của nữ nhân.Vị thế phía trên của nam nhân là vị thế nắm quyền chủ động thỏa
mãnlòng tự tôn và cảm thức ưu việt của nam nhân. Vị thế này cũng thỏamãn lòng
khao khát được vỗ về ôm ấp, bảo vệ của người nữ.Trong vài trường hợp đặc biệt
nếu dương vật dễ bị trật ra khi đâm vô rútra thì nữ nhân nên kê một cái gối
phía dưới mông để thay đổi vị thế củaâm đạo.
Đây là kiểu phổ biến nhất, chính thức từ
đó biến thái thành nhiều kiềukhác nhau. Tư thế này tự nhiên nhất vì khi đến
tuyệt đỉnh của sự thốngkhoái thì nam nữ ai cũng có khuynh hướng ôm choàng xiết
mạnh ngườibạn mình. Vị thế này thích hợp nhất cho sự cho sự ôm xiết đó.
Khuyết điểm của vị thế này là không áp
dụng được đối với người códương vật ngắn vì rất dễ trượt ra ngoài, cũng không
dùng được đối vớingười nam quá mập vì không đút vào sâu trong động tiên được. Nữnhân
khi có thai bụng đã nổi lên thì tránh dùng lối này, dễ động thai vìbị đè nặng
vì khi quá sướng người nam không còn nhớ để tránh.
Dùng vị thế cơ bản nói trên, sau đó nửa
chừng cuộc tình nữ nhân khéphai đùi lại, duỗi thẳng chân. Hai đùi nam nhân kẹp
hai đùi nữ nhân ởgiữa. Cách này làm cho âm đạo khép lại, kẹp sát bóp dương vật,
cọ sátnhiều, tăng thêm khoái cảm cho nam nhân. Về mặt nữ sự cọ sát nàycũng là
cho dương vật cọ sát thành âm đạo, kích thích mạnh âm hạchtạo nên trạng thái
khoái cảm tuyệt vời mà những vị thế khác ít khi có.
Vị thế này không phù hợp với nữ nhân nào có âm đạo quá nhỏ hoặc tửcung không phát triển toàn vẹn.Ưu điểm quan trọng của vị thế thân triển vị là kích thích được nam nhântrong trường hợp tinh lực kém, dương cụ căng giương lên không hết sứccũng giao hợp được dễ dàng vì âm hộ kẹp nó lại, da qui đầu bị tiếp xúcnhiều làm cho sự kích tăng lên thêm.
3. CAO
YÊU VỊ (Vị thế lưng cao)
Đây cũng là biến thế của chính thượng vị
(vị thế một), trong đó nữ nhânkê gối phía dưới mông để phù hợp với tình trạng
của nam nhân. Namnhân ở vị thế quỳ thay vì nằm ở giữa hai đùi của nữ. Vị thế
này khiếncho dương vật nằm ngang và vì không có trở ngại nên độ kết hợp sâuhơn
hai vị trí nói trên.Đêm tân hôn vị thế này là tốt nhất vì dương vật đi theo
đường của âmđạo – không kiểu cọ, không đâm ngang, đâm chếch – khiến cho sự
đauđớn của lần kết hợp ban đầu được giảm đến mức tối đa. Sau đêm tânhôn một hai
ngày cũng nên dùng vị thế này vì cái đau đớn của khoái lạcđầu đời chưa lành hẳn
hoặc vì âm hạch có thể bị đỏ, sưng sau lần màngtrinh bị phá rách.
Khuyết điểm của vị thề này là cuộc tiếp
xúc không mang đến khoái cảmcực đại cho nữ nhân vì dương cụ đi thẳng đường quá,
không chếchkhông cọ vào thành của âm đạo.Bị kê gối nên nữ nhân cũng không được
thoải mái, dễ mệt nên vị thếnày kông nên sử dụng khi nữ nhân ốm yếu hay đang
mệt nhọc. Lúc cómang càng không nên sử dụng.
4. KHUẤT
KHÚC VỊ (Vị thế thu mình)
Nữ nhân nằm ngửa, hai đùi co rút lại vào
phía thân mình, đầu gối chạmvào ngực, hai chân cách một gốc vừa phải, độ 135 độ
là vừa. Nam
nhântheo tư thế của chính thượng vị (vị thế 1) nghĩa là nằm úp lên trên mìnhbạn
vàng, hai tay chống xuống giường, đâm chênh chếch từ sau tới.Vị thế này kết hợp
hai cơ quan sinh dục được sâu vì đâm thẳng đườngcủa âm đạo. Đó là một vị thế
rất dễ thụ thai, tinh trùng được bắn thẳngvào cổ tử cung, dễ tồn tại ở đây một
thời gian, để kết hợp với trứng.Tư thế này người nam có thể tự do lay chuyển,
tự do ôm sát hay cách xanữ nhân để quan sát loã thể của nàng nên có thêm khoái
cảm về thịnhục, kích thêm sướng khoái. Nữ nhân trái lại thành âm đạo không
đượccọ sát nên không được vui sướng lắm. Đêm tân hôn tuyệt đối khôngdùng lối
này. Cũng vậy không nên dùng đối vơí nữ nhân có âm đạo quácạn.
NỮ THƯỢNG VỊ (Nữ nhân nằm trên)
1. PHẢN
VỊ (Vị thế ngược)
Phản vị là vị thế giao hợp ngược với
chính thượng vị ở đoạn trước. Phảnvị chủ yếu là nam nhân nằm ngửa hai đùi dang
ra giao phần chủ độngcho nữ nhân, nữ nhân quỳ ở hai đùi của nam nhân, rồi nằm
sấp lên trên.Cách này dương vật không chủ động đươc sự đâm vô rút ra của
mìnhnên dễ trợt ra ngoài. Ta có thể chữa cách này bằng cách kê gối phía eovừa
giữ cho thằng nhỏ khỏi đi lạc vừa tăng thêm kích thích cho nữ nhânvì không
vướng đùi nên thằng nhỏ như là được vươn mình dài ra hơn.Khoái lạc nam giới
tăng thêm vì được quan sát và sờ mó sự lòng thong
của đôi nhũ hoa nhiều khi rung chuyển lắc lư
theo nhịp điệu dao độngcủa nữ nhân.Nữ nhân dễ đạt được cao trào hứng thú, vì
nửa thân trên phải cố thẳnglàm cho âm đạo đổi vị thế, tử cung gò lên, qui đầu
của dương vật để tiếp
xúc và kích thích. Sự gợi cảm sinh ra là do sự
kích thích này. Mặt kháccũng là do tâm lý “làm chủ cuộc tình” của nữ
nhân.Thường dùng chánh thường vị, thỉnh thoảng vợ chồng cũng nên đổimón qua
phản vị để tạo mới mẻ tìm thêm hứng thú.
2. KỴ
THỪA VỊ (Vị thế cưỡi)
Ưu điểm của vị thế này là tạo cảm giác
mới mẻ, trẻ trung cho nữ nhân.Họ cũng dễ dàng xoay trở khi giao tình, họ chủ
động trong cuộc và thụhưởng được khoái lạc tối đa.
Nếu nữ nhân dùng hai đùi kẹp hai đùi của
nam nhân lại thì sự sướngkhoái càng tăng hơn vì sức kẹp khiến âm đạo bị khép
lại sự cọ sát giữahai cơ quan sinh dục càng nhiều.
Trong vị thế này, nửa thân trên của nữ
nhân thẳng, nhủ hoa buôngxuống, nam nhân nằm dưới mặc tình quan sát, sờ mó và
tưởng tượngmình đang được người đẹp phục dịch chiều chuộng. Mặt khác, cảm giáce
lệ, xấu hổ của người nữ bộc lộ trên nét mặt cùng lúc với sự sướngkhoái, khiến
cho hai đàng hưởng thêm phần nhục cảm. Tuy nhiên khi sựxấu hổ này lên đến tối
đa, đàng gái yêu cầu đàng trai nhắm mắt lại đừngxem thì nam nhân cũng nên giả
vờ nhắm mắt (ti hí, nữ nhân cũng biếtvậy nhưng sự xấu hổ bớt đi).
KIỂU NẰM NGHIÊNG
1. Nghiêng mặt đối
Thay vì nằm ngửa lên, vị thế này hai bên
nam nữ nằm nghiêng trêngiường, đối mặt nhau. Nam nhân dùng tay vỗ về, sờ mó loã
thể của nữnhân, hai đùi nam nhân nằm giữa hai đùi nữ, hai đùi nữ nhân co ôm
chặteo của nam nhân. Tư thế này ít hoạt chuyển nên ít mệt cho cả hai.Khuyết
điểm là nam nhân không được tự do, trong việc tấn thúc (lắc)còn nữ nhân cả đùi
bên duới phải chịu cả sức nặng của hạ bán thể củanam nhân (hai đùi) nên cảm độ
khoái lạc không thể lên được tới mức tôíđa.
Vị thế không thuận lợi nên kiểu nằm
nghiêng thằng nhỏ không đi sâuvào tuyệt cùng của âm đạo.Tuy nhiên ưu điểm của
thế này là không ồn ào, ít tiếng động. Nhiềungười ngủ chung phòng, nhà chật cha
mẹ ngủ mà có con cái ngủ gần tưthế này lý tưởng không tư thế nào bằng. Mình vui
mà không gây sự chúý và không làm phiền người khác.
2.
Nghiêng mặt lưng.
Như cái tên của nó, hai đàng nằm nghiêng
trên giường. Nam
nhân nằmphía sau ôm nữ nhân, bắp vế sát mông nữ. Nhưng nếu nam nhân đểngực mình
chạm với lưng nữ nhân thì phía thằng nhỏ khó vào, bởi vậyngực phải dang ra lưng
để hạ bán thân tiếp xúc mà thôi. Nữ nhân cầnphải co chân lại để nam nhân dễ xâm
nhập.Nam nhân dùng tay tự do (phía trên) sờ mó vỗ về nữ nhân. Nam nhânchân
trên có thể gác lên đùi nữ nhân hoặc xếp vế bên đùi nữ nhân ở trêngiường.
Tư thế này nam nhân hưởng nhiểu khoái lạc hơn nữ
nhân vì ở vị thế tấncông và hưởng thêm cảm giác ở bắp vế trong khi đó nữ nhân
chỉ kíchthích ở âm đạo mà không được kích thích ở đầu tử cung nên tuyệt
đỉnhkhoái lạc có cường độ không cao. Để giải trừ khuyết điểm đó nam nhânnên sờ
mó thêm âm hộ của nữ nhân và se se đầu nhũ hoa của bạn mình.Tư thế này thích
hợp cho thời điểm nữ nhân đang hoài thai vì bụngkhông bị đè. Mặt khác khoa lâm
sàng cho biết khi phụ nữ mang thai thìtử cung dần dần tới sát xương chậu và âm
đạo ngắn hơn lúc bình
thường, thể vị giao hợp này dương cụ giao hợp
không sâu nên rất thíchhợp vì không sợ bị xẩy thai.Mức khoái cảm do vị thế này
đem lại không cao nêân không tạo đượctuyệt độ khoái lạc cho nên lúc có kinh
cũng có thể áp dụng được. Đốivới nữ nhân bị bệnh bất cảm (cảm ứng không được
nhiều) đây là vị thếrất phù hợp.
VỊ THẾ
LƯNG
1. Thế nằm
Giống như cách thượng vị, nhưng ở đây nữ
nhân nằm sấp, nam nhânnằm lên trên lưng. Hai đùi nữ nhân có thể bẹt ra hay khép
lại. Nan nhâncũng dựa theo đùi của nữ nhân mà
hành động, nàng khép hai đùi, mìnhở ngoài; nàng banh hai đùi, mình ở giữa.Vị
thế này mông của nữ nhân có tác dụng như một cái gối êm xốp chonam. Trường hợp
người nữ gầy ốm, xương xẩu, kiểu thường và kiểucởi, làm cho nam nhân mất bớt
hứng thú vì chạm các khớp xương, kiểunằm sấp này tránh những khuyết điểm đó.
Trong trường hợp nữ nhân mập mạp nhiều
thịt, mông to vị thế nàykhông thích hợp vì “trái độn” đã ngăn trận sự xâm ngập
của dương cụkhiến sự tiến vào không được sâu.
Khi có mang dĩ nhiên là tuyệt đối cấm
dùng vị thế này. Khuyết điểmquan trọng của vị thế này là sự sút ra của dương
cụ, khi kích vì miệngâm đạo mở, từ trên xuống dưới (như một cái cổ giếng) trong
khi dươngvật tấn kích xuyên về phía trước. Nữ nhân không thích vị thế này vì
bịđè, khoái cảm ít, xung kích xâm nhập ngắn, đâm cạn sợt không đến đâu,vận động
không được tự do. Nam
nhân trái lại thích dùng vị thế này vìcó sự thỏa mãn về thị giác, kích thích
nhiều, hai tay lại được tự dochoàng qua mình bạn mân mê mấy thứ đồ phụ tùng.
2. Thế quỳ
Nữ nhân nằm sấp trên giường, nhưng cong
hai đầu gối lên về phía ngực,phía mông hơi chỏng lên cao, phía đầu hơi cúi
xuống thấp hơn. Namnhân quỳ ở chỗ mông của bạn, lưng thẳng hai tay ôm lấy chỗ
eo củanàng để điều chỉnh độ kết hợp.Khi giao hợp bằng vị thế này, qui đầu tiếp
xúc với âm đạo mãnh liệt.Dương vật được cọ sát nhiều, nên khoái cảm có cường độ
rất lớn. Nếumuốn tăng thêm khoái cảm thì nên dùng gối kê đầu gối của nàng
đểmông chỏng lên cao hơn nữa làm cho độ nghiêng sau trước được nhiều.Cách này
là cho cổ tử cung đưa ra hứng tất cả tinh dịch cho nên là vị thếrất dễ bị thụ
thai. Muốn tránh mang bầu không nên dùng thế này.Đặc biệt, nữ nhân khỏi làm gì
cả, tất cả điều do nam nhân chủ động, nữnhân chỉ cần xoay xoay hậu bộ của mình,
hoăc làm những động tác gìkhác tỏ ra mình cũng có khoái cảm, để kích thích thêm
nhục tình chonam giới.
Đặc biệt vị thế này thường phát những
tiềng động “nhẹp nhẹp” ta khôngưa thích, điều này không có hại gì, đừng nên chú
ý mất vui. Tiếng độngphát sinh ra do âm đạo bị đè nén mà mở ra chứa không khí,
vận độnggiao hợp làm cho không khí bị bung ra, tiếng động phát sinh từ đó.
TỌA VỊ (vị thế ngồi)
1. Ngồi đằng trước.
2. Ngồi
đằng sau lưng
LẬP VỊ
(Vị thế đứng)
PHƯƠNG PHÁP KHÔNG XUẤT TINH KHI HỨNG TÌNH
LÊN
TỘT ĐỈNH
Hoàng Đế hỏi: “Khi giao hợp, lúc khoái
lạc lên cực đỉnh gần xuất tinh mà cốkềm lại một ít lâu để kéo dài cuộc vui. Như
vậy có hại gì không?”
Tố Nữ đáp: Không hại mà lợi
1. Lần đầu: muốn xuất tinh cố kềm lại ít lâu,
đến khi ý ta muốn xuất tinhmà cơ thể không thể xuất được nữa, sức lực trong người
ta sẽ tăngmạnh mẽ hơn.
2. Lần thứ hai: mắt, tai sẽ tỏ thính hơn.
3. Lần thứ ba: nhiều bệnh sẽ không mắc phải.
4. Lần thứ tư: ngũ tạng sẽ bình an.
5. Lần thứ năm: máu huyết sẽ thông suốt, điều
hòa.
6. Lần thứ sáu: bộ phận ở chỗ thắt lưng là chỗ
dễ đau khi giao hợp nhiều,được cường tráng nên mặc dầu giao hoan nhiều vẫn bình
thường,không đau mỏi.
7. Lần thứ bảy: mông và đùi sẽ được nở nang, sức
lực tăng cường tối đa.
8. Lần thứ tám: toàn thân sẽ cường kiện, dũng
mãnh.
9. Lần thứ chín: sẽ được trường thọ, sống lâu.
10. Lần thứ mười: cửa thiên đình sẽ mở rộng
nghĩa là người đó có một đờisống sảng khoái, tâm hồn luôn được hân hoan, thơ
thới.”
GHI CHÚ:
1. Thuật dưỡng sinh của phép thai tức –
phái thai tức là môn phái dưỡngsinh rất lâu đời ở Trung Quốc – có nói đến vấn
đề này: “Nhả ra, thở ra íthơn khi hít vào thì khí sẽ tồn tại trong cơ thể. Đó
là bí quyết làm cho trẻmãi không già”. Nguyên tắc hô hấp áp dụng vào thuật giao
hợp cũngvậy thôi bởi vì hai bên có sự giống nhau. Hô hấp là “ái khí”, nghĩa
làgiữ khí tồn tại lại trong mình. Thuật giao hợp gọi là hành động giữ tinhkhí
lại trong mình là “bửu tinh ái khí”, nghĩa là coi trọng “cái tinh”, quý”cái
khí” của mình. Nguyên tắc “bửu tinh ái khí” chú trọng ở chỗ giữsao cho tinh khí
của mình càng ít xuất ra càng tốt.
2. Y học Trung Quốc xưa cho rằng máu là
một hình dạng khác của tinhkhí, nói cách khác khí là sự biến hóa của máu mà
thành (người tathường nói khí huyết). Bảo vệ máu thì phải bảo vệ khí. Tinh là
hìnhthức cao hơn của máu, do đó xuất tinh đi sẽ làm cho mình mất máu đi.Sẽ bị
tổn thọ.
3. Hấp khí là thu khí mà thải ra ít hoặc không
thải ra. Bởi thế khi giaohợp, nam nhân cố kéo dài thời gian và không xuất tinh
là đã tuân theonguyên tắc trường sinh trong thuật phòng trung vì đã hấp được
cái khí
của người nữ mà không tổn cái khí của mình.
4. Vấn đề quan trọng là: giao hợp mà
không xuất tinh thì có khoái lạc haykhông, ông Bành Tổ trả lời là có, mình càng
kềm chế thì càng đượckhoái lạc.
5. Giao hợp mà kéo dài không xuất tinh
(xúc nhi bất tiết) là để thỏa mãnkhoái cảm, nhưng nếu luyện được xuất tinh theo
ý muốn thì sẽ hưởngđược mười điều lợi như Tố Nữ đã nói ở trên. Những điều Tố Nữ
nói, Yhọc Trung Quốc cũng nói tương tự: “Tiết dục để tồn trữ tinh lực,
tăngcường hoạt năng của tinh trùng, luyện tập sức đề kháng và duy trì trílực.
Tiết dục có lợi cho cả thân thể và tinh thần”.
6. Lão Tử nói: “Tri túc vi phú” (biết đủ
thì làm giàu), sách Lễ Ký cũngnói: “Lương nhập vi xuất” (tùy theo sự thu nhập
mà chi tiêu, xuất phát).Đem hai câu trên áp dụng vào việc phòng trung và việc
xuất tinh thì rấtđúng. Không biết quý khí, trọng tinh có bao nhiêu cũng trút
thì khôngthể nào tráng kiện được.
Ông Khang Đức có nói: “Ấu tiểu thời bất
giáo, dĩ ngưỡng dục ngã, chânthị bất hạnh” có nghĩa là: “Bất hạnh thay cho ai
lúc trẻ không được dạydỗ nên lớn lên ham mê điều nhục dục. Ham mê buông thả mà
khôngbiết kiềm chế đó là tự mình bỏ máu của mình vậy”.
7. Y học Trung Quốc khi nói về hô hấp cũng nói
tới khả năng trừ áp huyếtcao của hô hấp. Bị bệnh này, dùng phương pháp hít thở
thật chậm, thậtdài để thông suốt kinh mạch thì có thể khỏi bệnh.8. Phương pháp
này do Nhật Bản phát động khởi thủy từ bác sỹ Hát PhuBa, như là một món thể
thao trị liệu, trong đó bệnh nhân làm nhiều cử
động hô hấp, càng hô hấp nhiều thì phổi sẽ mạnh
và dưỡng khí vào máucàng nhiều.
9. Trung Hoa còn thuật trừ già nua bằng
cách hít thở (hố hấp). Tập thở ramà bụng phình lên và hít vô bụng xẹp xuống.
Điều này nghe thì khónhưng thực hiện không khó vì hít vô thì hít vào phổi, bụng
đương nhiênsẽ xẹp xuống.
10. Phép dưỡng sinh bằng hô hấp của Trang Tử có
câu quan trọng: “Ngườichân nhân đạt đạo dưỡng sinh, hô hấp tới gót chân, thường
nhân chỉ hôhấp tới cổ họng. Hô hấp đúng thì bảo toàn được thân, như một
ngườiđầu bếp khéo dùng dao cắt chặt lâu ngày mà dao vẫn không mòn “.”Người đầu
bếp giỏi cũng phải mỗi năm thay dao một lần, người kémhơn thì mỗi tháng một
lần. Ta cũng dùng dao để cắt da, cắt thịt thế màđã chín mười năm nay rồi mà con
dao dùng từ đó đến nay vẫn còn mớitoanh “. Đó là câu nói thời danh của Trang Tử
áp dụng vào thuật giao
hợp tiết khí rất là hữu ích.
11. Phép Yoga của Aán Độ có dùng xương
sống để hô hấp. Phép nàykhông khác gì dùng gót chân để hô hấp của Trang Tử của
Trung Hoa.
Yoga căn bản là hít thật nhiều khí vào
trong bụng. Từ bụng chuyểnkhông khí vào đan điền (lỗ rốn).
12. Về thuật “xúc nhi bất tiết”, giao hợp
mà không xuất tinh, sách NgọcPhòng chủ yếu có đoạn quan trọng như sau: “Lúc sắp
xuất tinh khôngcử động dương vật nữa, thở ra một hơi thật dài, đồng thời cắn
chặt rănglại, ngước đầu lên thật lẹ ngó chung quanh, hít vào một hơi dài
đểphùng bụng lớn lên, tập trung tinh thần vào việc thở hít này, rồi thótbụng
lại đồng thời thả hế hơi trong bụng ra. Luôn ngó mắt chungquanh, kỵ ngó người
ban ngọc đang ở dưới mình mình, hàm răng cắnchặt. Khi trong tai nghe tiếng gió
thổi ù ù thì thót bụng lại”.Phương pháp này còn lợi ích cho việc chữa trị các
chứng mắt kém vàđiếc tai, làm cho thị lực được tăng cường và thính lực được
phát triển.
13. Mắt ngó chung quanh là cách thế để
phân tán sự chú ý của ta vào ngoạicảnh khỏi phải chú ý vào dục tình. Hứng thú
lúc đó không bị khơi động,tinh khí do vậy không thể dễ dàng xuất được.
14. Hô hấp có thể kết hợp với đọc kinh có thể
luyện cho khả năng hô hấpkéo dài hơn. Ở Nhật Bản có một chi phái Phật Giáo thực
hành phép tudưỡng sau:
Sáng sớm thức dậy đọc kinh ba mươi phút, mỗi khi
đọc hết một đoạnkinh thì hô hấp và uống một ly nước lạnh. Nhiều cuộc nghiên cứu
chothấy tín đồ của giáo phái này:
• Đường đại tiện, tiểu tiện rất thông suốt.
• Hô hấp rất dài hơi.
• Tập trung ý chí dễ dàng.
• Tinh thần an tịnh, không biết lo âu hồi hộp.
15. Tục ngữ Trung Quốc có câu: “Hô hấp thi ích
dã” nghĩa là sự hít thở rấtcó ích lợi. Ơû đây chỉ có sự hít thở đúng phương
pháp, còn sự hít thởbình thường của thường nhân thì chỉ để duy trì sự sống
thôi, không có
ích lợi nào khác.
16. Cười cũng là một phương pháp hô hấp để tinh
thần an tịnh cho nên cườicũng là một trong những phương pháp dưỡng sinh và có
tác dụng làmcho con người tươi trẻ. Những người thường hay vui cười thì thâm
tâm
được quân bình, tinh thần được an định.
17. Những người quý tộc Ấn Độ thường hay
luyện tiết dục bằng phươngpháp đè nén. Họ lấy tay đè một vùng gần niếu đạo, gần
chỗ con đườngdẫn nước tiểu, tức là vùng dẫn tinh khi tinh khí xuất ra ngoài.
Theo họthì phương pháp này làm cho tinh khí xuất ra không xuất được mà phảichạy
trở vô lại.
18. Một đặc tính để kiềm chế xuất tinh là
giao hợp nhiều lần mà mỗi lầnđều với người đẹp trẻ tuổi khác nhau.
19. Sách “Thiên Kim Phương” là sách nói
về các phương pháp áp dụng đểtìm hoan lạc trong phòng trung có nói rằng: “Con
người trước 30 tuổithì khí huyết dồi dào, tình dục phong phú, khi quá 30 tuổi
khí thế so lạihơi giảm. Lúc này thân thể đã yếu nên khám bệnh để coi mình có
bịbệnh hay không để trị vì để lâu sau này hậu quả sẽ khó lường. Lúc nàycũng là
lúc luyện bí thuật phòng trung. Phương pháp thì dễ nhưngphương tiện lại khó; đó
là mỗi đêm giao hợp với mười người con gáikhác nhau và không được xuất tinh.
Nên uống những thức bổ dược(phần cuối sách có nói về những thức bổ dược này).
Luyện phép nàytrong một năm thì tự nhiên khí lực và thể lực tăng tiến vô cùng,
trí óclúc này lại minh mẫn”.
Tiếp xúc với nhiều người con gái trẻ đẹp
là ước vọng từ lậu của conngười, nhưng đối với cuộc sống ngày nay thì không còn
phù hợp nữa.
20. Bác sỹ Kim Soai có nhận xét rằng phụ
nữ sau khi có hôn nhân vẫn cóước vọng giao hợp với nhiều đàn ông khác nhau. Họ
cũng thích sướngkhoái và thay đổi như nam giới. Nhưng nam giới cũng như nữ giới
nếuchỉ thuần túy đi tìm khoái lạc thì rất dễ hại thân. Quan niệm cổ điển vềtình
dục của Trung Quốc cho rằng tinh khí là thứ quý trọng của conngười, bằng mọi
giá ta không thể xuất tinh.
21. Y học có một câu rất hay: “Người nam
trong giai đoạn 20 tuổi, giaohợp nhiều hay ít quyết định suy thoái tình dục hay
không, vào khoảng30 tuổi sự hay ho của cách giao hợp quyết định sự thất bại hay
không,vào khoảng 40 tuổi thì khoảng cách giữa hai lần giao hợp quyết địnhsự
thất bại hay không”.
22. Trung Hoa cũng có câu về sinh lý của
phụ nữ: “Tam thập quả phụ bấtkhả thông”, nghĩa là đàn bà góa chồng lâu mà tuổi
còn trẻ thì sinh lýkhông còn mạnh mẽ như nam giới nữa. Điều này cho thấy sinh
lý củaphụ nữ mâu thuẫn với sinh lý của nam nhân.
23. Sách “Thiên Kim Phương” có nói về sự
hiệu dụng của cách chữa bệnhbằng phương pháp tọa thiền và hô hấp thật sâu. Thực
hành phươngpháp này thì dầu cho thời gian trôi qua tóc râu cũng không mọc ra
dài.Sách cổ có ghi lại chuyện một vị hòa thượng dùng phương pháp “nộiquan” để
trị bệnh phổi kết hạch của mình. Thật ra đây chỉ là mộtphương pháp kết hợp giữa
sự toạ thiền và sự hít thở sâu đúng phươngpháp mà thôi.
24. Đời Hán có một cuốn dã sử tựa là
“Châu lâm dã sử”, chuyện viết về đờicủa nàng Hạ Cơ là một nhân vật sống vào đời
Xuân Thu. Hạ Cơ trongmột giấc mơ chiêm bao thấy mình học được phương pháp trẻ
mãikhông già của tiên gia bằng hai phương pháp “Hấp Tinh Đạo Khí” và”Tố Nữ
Chiến Thuật”. Hai bí quyết này là liên tục không ngừng ngẫmnghĩ hấp thụ tinh
khí của nam nhân. Khi được Trần Linh Công ôm ấpân ái, nàng sử dụng phép “Nội
Thị” là một bí thuật khác của phòngtrung mà người đời sau cho là thuật điều tức
dựa trên nguyên lý “Xúcnhi bất tiết”, nghĩa là giao hợp kềm hãm không cho xuất
tinh của pháinữ.
25. Theo “Ca Xuyên đại nhã thị” thì cái
hạch lý tưởng của một người theoLạt Ma giáo là đạt đến sự “linh nhục nhất chí ”
nghĩa là tinh dịch từphần của bộ phận sinh được dùng ý chí điều khiển theo
đường xươngsống mà chạy lên đỉnh đầu. trong quá trình thực hành động tác đôi
namnữ đều phải tập trung tinh thần theo kiểu thiền định sao cho đạt đượctrình
độ không xuất tinh. Phái này lấy việc hãm tinh làm cứu cánh chosự sung sướng.
26. Không phải ai cũng cổ võ sự bế tinh,
có rất nhiều người cho “Xúc nhibất tiết” là có hại cho thân thể. Thật ra đây có
thể coi như là sự tiết dụcvà phương pháp luyện cho giao hợp được dài lâu. Các
chương sau củakinh Tố Nữ sẽ đề cập đến số lần xuất tinh cần thiết, nghĩa là
kinh TốNữ không bảo tuyệt đối không được xuất tinh.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét