Tố Nữ nói: “Có
một người con gái tên Thái Nữ rất thâm hiểu đạo âm dương”, Hoàng Đế sai Thái Nữ
đi mời Bành Tổ cho mình thỉnh giáo về phương pháp diên niên ích thọ (sống lâu).
Bành Tổ trả lời: “Giữ tinh khí, thu dưỡng tinh
thần. Uống các thứ thuốc bổ dưỡng thì có thể trẻ mãi không già. Tuy nhiên nếu
đã có ba thứ trên mà không biết cách giao hợp cho phải phép thì cũng vô ích
thôi. Đạo giao hợp là hợp thành nhất thể với người giao hợp. Xem kìa trời đất
liền nhau thành nhất thể nên mãi mãi trường tồn. Con người cũng vậy, không khác
gì. Nếu không biết nguyên tắc đó thì bị thương thân bại thể có khi còn táng
mạng nữa”.
GHI CHÚ:
1. Hoàng đế vì
trăm công ngàn việc nên người đã mệt mỏi. Thêm chuyện tửu sắc nên thần kinh
không nhiều thì ít bị suy hoại, luôn luôn cảm thấy như mình đang mang bệnh. Để
cho Hoàng Đế tin tưởng thuốc thang công dụng, các y sư trong triều mới bàn nhau
đi mời Bành Tổ tiên sinh là một vị triết nhân thông hiểu thuật dưỡng sinh.
Tương truyền Bành Tổ tiên sinh rất thọ và dùng phương pháp nhiếp bổ (dùng thuốc
bổ) và cường tinh (làm cho tinh khí mạnh hơn, cường dương) nên khi đã già mà
vẫn thấy như thanh xuân và khí thế giao hợp vẫn không giảm.
2. Thái Nữ, như
Tố Nữ, là người con gái thật đẹp lại thấu hiểu các phương cách phòng sự. Những
điều chỉ dạy của bà ta rất ích lợi cho cuộc dưỡng sinh và đời sống chăn gối.
3. Sách “Liệt
tiên toàn truyện” có ghi lại truyện Thái Nữ vâng lệnh của vua Chân Mục Vương
(976 tr. Công nguyên) đi hỏi Bành Tổ tiên sinh về bí thuật phòng trung để về
truyền lại cho vua. Từ đó về sau mục Vương là người hưởng được kết quả diệu kỳ
của hành sự giao hoan theo đúng phương pháp.
4. Sách “Thập di
ký” có ghi chuyện Vương mẫu xuống trần ăn ở cùng với Mục Vương của vùng Vị Châu
thời Đông Tấn. Lúc nầy Mục Vương đã hơn 50 tuổi. Vương mẫu chỉ dẫn Mục Vương
cách giao hoan và hai người đã hưởng một đêm sung sướng tuyệt trần. Sách có nói
thêm là trong đêm dó Vương mẫu lấy ra trong âm đạo một “hạch tổ” bảo vương nuốt
đi vì rất bổ cho việc dưỡng sinh và cường tinh. Sách y học Trung quốc có ghi là
hạch nầy dùng chữa bệnh tạng suy, cải lão. Hạch còn trị được bệnh tinh thần
không an định, giúp cho người bệnh cảm thấy an định thơ thới tâm hồn.
5. Từ thời Hán y giới Trung Hoa đã có ” Cam mạch đại tổ thang” là thang thuốc an thần trị bệnh cho phụ nữ mà chất chính vẫn là hạch tổ lấy từ trong âm đạo.
6. Trung quốc vốn
nổi tiếng về các thang thuốc cường tinh tráng thể. Các thứ nầy vốn khác xa với
các thứ thuốc kích dâm ngày nay. Thuốc kích dâm kích động thần kinh cho hứng
tình gợi dục mà không giúp thân thể bổ dưỡng, không giúp cho nam nhân tiết khí
(tiết giảm xuất tinh).
Thuốc cương tinh
tráng thể của trung quốc trái lại là thứ giúp thân thể chống lại bệnh suy nhược
do các cách giao hợp không đúng phương pháp sanh ra mà vẫn giúp được người dùng
cảm thấy thích thú trong khi giao hoan.
CHƠI NHIỀU ÍT MỆT (Đa ngự, tiểu tiết)
Thái Nữ nói: “Xin
Bành Tổ tiên sinh chỉ dẫn thêm về đạo giao hợp để giữ được thân thể tinh tráng.”
Bành Tổ nói: “Đạo
lý nầy nói ra thì rất dễ hiểu thôi, chỉ hiềm loài người không theo hoặc theo mà
không tin thôi. Hoàng đế hiện tại trăm công ngàn sự, tâm thần mỏi mệt không thể
nào thấu đáo các lời giải thích về phép dưỡng sinh. Ta chỉ xin nói về trường
hợp Hoàng Đế có thể làm được mà thôi. Hiện trong cung có nhiều phi thiếp, chỉ
cần thâm hiểu cái đạo lý giao hợp thì cũng đã nắm được phương pháp nhiếp dưỡng
rồi. Nguyên tắc là “đa dữ niên thanh nữ giao hợp, tịnh thả lũ giao bất tiết”
nghĩa là giao hợp cùng thật nhiều cô gái trẻ trung nhưng tiết giảm sựï bắn khí
xuất tinh. Tiết giảm được bắn khí thì thân thể sẽ được nhẹ nhàng dễ chịu, không
bệnh tật nào có thể sanh ra dược.”
GHI CHÚ:
1. Bành Tổ chú
trọng tâm lý trị liệu. Vua nhiều việc nên mệt mỏi, ông khuyên vua nên về hậu
cung vui cùng cung nữ quên bớt những chuyện lo âu về qu ốc sự vốn làm cho con
gười dễ sút giảm sinh lực.
2. Nhưng vui chơi
nhiều (đa ngự) mà không được mất sức, càng ít xuất tinh (tiểu tiết, tiết: rỉ
ra, lộ ra, chảy ra) càng tốt.
3. Lựa gái thanh
xuân trẻ đẹp để giao hợp đó là nguyên tắc tâm lý người đàn ông thấy mình hưởng
nhiều, mình hơn người, may mắn hưởng được của quý là sự thanh xuân của người
con gái.
4. Gần đây áp
dụng nguyên tắc nầy, bác sĩ Havelock Ellis khuyên các cặp vợ chồng nên tạo
thanh xuân cho nhau trong việc chăn gối. Hai bên nên vui vẻ giao tình để cùng
nhau thấy như mới như trẻ. Người chồng vui vẻ trong sự gợi xúc cảm, người vợ
chải chuốt trang điểm, tạo thêm vẻ thanh xuân cho chính mình và cho sự giao hợp.
5. Thống kê cho thấy có nhiều cặp vợ chồng lâm
vào tình trạng càng lâu xa đêm tân hôn hào hứng thì càng có sút giảm trong niềm
thích thú gối chăn. Sự quen nhàm là một yếu tố, khiến tạo nên tình trạng miễn
cưỡng. Ta tránh tệ hại nầy bằng cách hợp tác với nhau, làm như mới, đối với
nhau như mới gặp lần đầu thì sự khoái sướng mới lâu dài trong
cuộc sống vợ chồng được.
6.
Nhìn lại câu nói của Bành Tổ bằng con mắt của người hiện đại ta thấy ông khuyên
nếu muốn hưởng hạnh phúc đời thì phải tạo cho có được một tinh thần vui vẻ (bớt
lo lắng), một thân thể khỏe khoắn (ít bắn khí, hưởng tuổi xuân và sự vui vẻ của
người bạn tình). Đời nay con người phải sống trong một xã hội bận rộn, tâm lý
dễ bị xáo trộn phiền muộn
bất an từ đó dễ sinh ra bệnh hoạn. Kinh Tố Nữ
chương nầy lời của Bành Tổ tiên sinh là một lời khuyên tốt cho chúng ta, nếu
chúng ta biết cách sống.
CHÍN LẦN CẠN MỘT LẦN SÂU (Cửu thiển nhất
thâm)
Tố nữ nói với
Hoàng đế: “Khi hành sự thì phải coi người con gái như ngõa thạch (gạch ngói),
tự coi mình như ngọc quí (kim ngọc). Khi nhận thấy người con gái tới mức khoái
cảm, thân thể vặn vẹo luôn thì phải mau mau rút dương vật ra khỏi âm hộ.”
Nếu muốn chinh
phục nữ nhân thì khi giao hợp phải đặc biệt cẩn thận. Trên mình người đẹp, khi
hứng tình muốn giữ cho khỏi bắn khí không phải là dễ, nó kéo mình theo khó lòng
kềm chế, cẩn thận lắm mới kềm chế được. Sự kiện nầy chẳng khác nào thắng sợi
dây cương mục rã sắp đứt vô con ngựa chứng, hay đang đứng trên bờ vực thẳm của
chóp núi cao. Chỉ cần sơ ý một chút thì tai hại sẽ xảy ra không lường được.
GHI CHÚ:
1. Căn cứ trên
các trắc nghiệm y học người ta thấy rằng nam nhân rất dễ hứng tình và khi tình
hứng tới cao độ, bắn khí thì không còn làm gì được nữa, dương cụ trở nên xìu
mềm, vô năng, ở bên cạnh người đẹp lòng cũng dửng dưng nguội lạnh. Nữ nhân trái
lại thời gian bắt trớn hứng tình chậm, sự sờ mó rờ rẫm (ái phủ) trong giai đoạn
đầu rất cần thiết để đưa nàng đến tình trạng sẵn sàng nhập cuộc. Vì vậy khi hai
người xáp lại, đã có một sự so le về thời gian hứng cảm. Lúc nam nhân đạt tới
cao điểm hứng thú thì nữ nhân nhiều khi chưa đạt được cao điểm nầy. Nếu không
cẩn thận, không kềm được cương con nộ mã mà bắn khí thì cuộc giao hợp chấm dứt
trong sự bẽ bàng của nữ nhân.
2. Tố Nữ nói:
• “Coi nữ nhân như ngõa thạch” là muốn nói phải
nhẹ nhẹ nương tay đừng mạnh bạo quá mà ngói gạch vỡ bể đi. Sờ mó nhè nhẹ, ái
phủ khắp toàn thân nữ nhân để kéo đến sự đồng bộ hứng tình sau này, cũng là để
chuẩn bị cho có đồng điệu trong lúc tuyệt cùng sướng
khoái.
• “Coi mình như
ngọc thạch” là mình phải quý mình, tiết kiệm tinh khí không bắn khí quá sớm,
chưa phải lúc. Đối phương chưa sẵn sàng thì sự xuất tinh, riêng mình cũng chưa
hưởng tuyệt cùng của đời sống ái ân.
3. Vấn đề tuyệt
hứng phải phối hợp, phải đồng bộ trong sự giao hợp nam nữ rất là quan trọng. Nam nhân không
được chỉ nghĩ đến cái sướng bắn khí của mình mà phải đoán coi thái độ của nữ
nhân nữa.
4. Tập quán của
người Do Thái kết tội “cưỡng dâm sau hôn nhân” (hậu hôn cưỡng dâm) nếu người
chồng chỉ muốn thỏa mãn dục tính tiến hành giao hợp trong khi người vợ chưa sẵn
sàng cuộc mây mưa hay không thể có được đồng bộ sướng khoái.
5. Ở đời cổ Trung quốc có một số ngưới biết lợi
dụng nguyên lý châm cứu để kích thích dục tình của nữ nhân trước khi giao hợp,
và họ đã đạt được kết quả là khiến cho nữ nhân “xuân tình bộc phát” sẵn sàng
đáp ứng để cùng nhau đạt tớt cao điểm sướng khoái cùng lúc. Nguyên tắc châm cứu
là “kích thích 14 kinh mạch và các đường huyệt đạo lien quan tới tình dục”
(thập tứ kinh lạc huyệt đạo tuyến).
Thời xưa kỹ thuật vuốt ve trước khi ái ân
là:
• Mân mê từ các
ngón tay, bắt đầu từ ngón giữa tới ngón cái, các ngón cọ sát vào nhau. Ban đầu
còn thoa bóp các ngón sau rờ rẫm từ từ lên cánh tay rồi lên bả vai.
• Xoa bóp nựng
nịu ban đầu là ngón chân cái rồi sang ngón bên cạnh, từ từ rờ lên mu chân tiến
lên tới phía bên trong đùi.
• Sau đó thì sờ
mó nựng nịu toàn thân. Kế tiếp nam nhân dùng tay trái ôm sát lưng nữ nhân tay
phải từ từ di động lên vuốt ve những vùng mãnh cảm nhất của nữ nhân đồng thời
tiến hành những động tác hôn hít. Hôn hít thì cũng tiến hành chậm chậm, đầu
tiên hôn cổ, sau hôn trán. Dùng lưỡi liếm cổ, phía trước và phía sau cổ là
những vùng cần được liếm nhất. Kế tiếp là liếm đầu vú nàng, cắn nhẹ lổ tai nàng
để cho nàng rùng mình xúc cảm.
6. Sau đó khi
thấy tình trạng đã chín mùi thì áp dụng nguyên tắc “cửu thiển nhất thâm hữu tam
tả tam bãi nhược hoạnh hoành”. Đây là bí quyết của đàng trai để tạo hứng thú
tuyệt đại cho nữ nhân cùng mình giao hợp mà cũng là phương cách chống xuất tinh
sớm, một căn bệnh đem đến bẽ bàng cho nhiều nam nhân.
• “Cửu thiển” là
chín lần đâm cạn, đâm nhẹ nhàng để chuẩn bị cho nữ nhân ý xuân phơi phới, tâm
hồn bồn chồn như là khỉ chuyền ngựa chạy. Lúc đó mới áp dụng “nhất thâm”, đâm
mạnh lút vào sâu không chừa chút nào. Cho em hết những gì anh có. Thâm sâu, quy
đầu cọ sát vào âm hộ tạo một trạng thái hứng thú tột độ. Âm hộ lúc đó có khả
năng mở ra bóp lại. Nở ra để đón nhận hết, rút lại để bóp chặt ôm khít dương
thể trong trạng thái nhất thể hoà đồng.
• “Hữu tam tả
tam” là kích động hai bên bờ của âm hộ. Cọ xát bên trái ba lần, bên phải ba
lần. Nữ nhân lúc nầy cảm thấy đâu đâu cũng có dương thể cọ vào, sự sung sướng
không thể nào lường được. Như vậy động tác ái ân không chỉ là một cách tiến vào
rút ra mà biến hóa dương vật bơi lội như con cá, thân mình thằng nhỏ chuyển
động hai bên, bò như con trùng khi lên khi xuống. Tất cả mọi vùng khoái cảm của
âm đạo đều được tiết xúc cọ xát, bên mép, trong sâu, bên nầy, bên kia; nữ nhân
không thể nào cưỡng lại mình được nữa, khoái cảm sẽ lên đến tột độ kịp thời với
tột độ của nam nhân.
7. Thời Tuỳ Đường
có cuốn sách nói về chuyện ái ân là “Ngọc Phòng Bí Quyết” bàn về nghệ thuật
phòng trung, trong đó có câu thiệu “bát thiển nhị thâm, tử vãn sanh hoàn” cũng
tương tự nhưng bổ xung cho nguyên tắc “cửu thiển nhất thâm tả tam hữu tam” nói
trên.
• “Bát thiển nhị
thâm” chẳng qua là thay đổi số lần sâu đâm vào, thường là theo lời yêu cầu của
nữ nhân. Nên nhớ phải có cạn sâu, không được sâu cả như nhau vì đâm vô một chỗ
khoái cảm sẽ bị tê liệt đi giống như gãi lưng gãi nhẹ mạnh khác nhau, thay đổi
chỗ này chỗ khác thì khoái và đã ngứa, nếu chỉ gãi mạnh một nơi thì chỉ có tróc
da tróc thịt đau đớn mà thôi.
• “Tử vãn sanh
hoàn” là “khi chết đi vào, khi sống đi ra”. Dương vật ở trong âm hộ đã lâu, ấm
áp khoái lạc rất dễ không thể tự thắng mà phải bắn khí, khi thấy nó có mòi
dương lên cực đại sắp xuất tinh thì phải rút ra khỏi âm đạo – đi ra khi còn
cứng còn sống – Bên ngoài nó nghỉ ngơi một chút thì bị xìu, đó là lúc cho nó
xung trận lại nữa – đi vào lúc mềm, lúc chết – Cứ thế quá trình tử vãn sanh
hoàn thì cuộc vui kéo dài được nhiều lần khoái cảm.
• Có sách nói “nhược
nhập cường xuất” cũng là cách nói khác của tử vãn sanh hoàn mà thôi. Lúc hơi
mềm, xìu cho vào, lúc cứng quá độ sắp bắn khí thì phải rút ra. Càng theo các
nguyên tắc trên càng hưởng được cuộc vui kéo dài mà hòa thuận vợ chồng vì kéo
được lúc cực điểm khoái lạc của hai người nam nữ về cùng thời điểm.
DƯỠNG SANH VÀ LUYỆN KHÍ
Hoàng Đế hỏi Tố
nữ rằng: “Nay ta muốn ngưng việc giao hợp một thời gian dài lâu rồi mới trở lại
có được không?”
Tổ Nữ đáp: “Không
nên, trời đất có hiện tượng mỡ đóng, khí âm khí dương có hiện tượng thi hoá,
như bốn mùa xuân hạ thu đông và hiện tượng ngày đêm tối sáng đều do thứ tự của
thời gian mà biến hoá thành khác nhau. Con người ta cũng phải tuỳ theo nguyên
lý âm dương này mà hành động. Nếu ngưng giao hợp thì tinh khí không tuần hoàn,
cái đạo âm dương bị cắt đứt như vậy làm sao tiếp nhận cái tiến trình bình
thường để nhiếp bổ thân thể (bổ thân)? Phải theo cách luyện khí hành công nhiều
lần, phải thải ra phế khí, phải thu vào tiễn khí (khí tươi mới) để tăng tiến sự
tráng kiện thân thể.”
GHI CHÚ
1. Dương vật nếu
không thường giao hợp thì chẳng khác nào con rắn hổ vì không cử động mà phải
nằm chết cóng trong hang. Do đó người khôn phải tuân theo lời chỉ dẫn đạo lý
trên để tạo dịp cho tinh khí lưu thong trong toàn thân thể tới xương cốt, gân,
thịt. Trong khi giao hợp mới dùng phép hoàn tinh khiến cho tinh dịch không bị
cảnh lãng phí vì ở một chỗ không dùng.
2. Đọc Tố Nữ kinh
ta khám phá thấy ngày xưa phối hợp nhiều phương pháp dưỡng sinh chứ không phải
chỉ theo một cách nào đó mà bỏ quên những cách khác. Trong các phương pháp này
có nghệ thuật phòng the là một, và nghệ thuật phòng the lại phối hợp nhiều phương
pháp dưỡng sinh khác.
3. Ở Trung Quốc
từ lâu người ta nghiên cứu các cách sinh hoạt, tập quán ăn uống, cách giao hợp…
của các loại động vật sống lâu để đưa ra các “thuật dưỡng sinh” như đạo dẫn,
luyện khí, thai tức, bích cốc, thực tiếp, giao hợp,… Sách Tố Nữ là sách dạy về
phòng trung, giao hợp hay nhất, vì rất là hiệu nghiệm. Đạy là bí kiếp cho các
bậc Đế Vương và giai cấp quý tộc, họ dành riêng để theo đó mà hưởng của Trời.
“Đạo dẫn” tổng quan có thể coi như là một loại
thể dục nhịp điệu cùa phép thể dục ngày nay, Trang Tử có truyện Hoa Đà (145-280
Công nguyên) là danh y của Trung Quốc thời cổ đại. Hoa Đà rất rành về phép đạo
dẫn cổ truyền. Quan sát loài gấu leo cây, ông sáng tác ra cách luyện tập tứ
chi. Quan sát năm cách vận động của phi cầm, ông đặt ra cách
luyện tập để thân thể tráng kiện, tinh thần
thoải mái. Nhờ theo phép đạo dẫn Hoa Đà sống trường thọ, năm 99 tuổi tay mắt
vẫn còn sáng tỏ, răng chưa rụng cái nào.
Ngày nay, ta nói
mà không sợ, phép đạo dẫn là những động tác co duỗi, xấp ngửa, đi ngồi, đứng
lên quỳ xuống, đi bộ, hô hấp… có tác dụng lưu thông máu huyết để cường sinh
khang kiện thân thể.
4. Đồng thời với
Hoa Đà có ông Lãnh Thọ Quang cũng là người thực hành viên mãn phép đạo dẫn. Ông
thường vận động đầu cổ và hít thở thật sâu lại áp dụng thành công các bí quyết
phòng trung nên khi đã hơn 160 tuổi tuy đầu tóc đã bạc mà thần khí vẫn như
người thanh xuân. Bí quyết phòng sự của ông ta là “thái âm bổ dương” gặt hái
thu lượm cái âm khí để làm bổ cái dương khí.
5. Sách Hậu hán thư, trong các truyện về phương
thuật có ghi ở quận Thượng Đãng, tỉnh Sơn Tây có người tên Vương Chân tuổi gần
100 mà mặt hồng hào rạng rỡ như người chưa quá ngũ tuần. Bí quyết trường thọ
của ông nầy là thực hiện phép “thai tức” và phép “thai thực”. “Thai thực” có
nghĩa là chỉ ăn những gì sanh ra từ bào thai mà thôi, tỷ dụ như
thịt bò, thịt heo… không ăn những gì có nguồn
gốc mễ cốc.
6. Thời cổ Trung
quốc thuật dưỡng sinh ngoài những vận động thân thể và hô hấp còn để ý đến sự
ăn uống đầy đủ (thai thực) và thỏa mãn nhu cầu sinh lý. Như vậy sự sinh hoạt
mới quân bình không vì một mặt nào của đời sống mà hủy bỏ mặt khác của đời
sống. Sự quân bình đó làm cho con người được kiện khang và trường thọ.
7. Theo khoa học
hiện đại thì:
• “Đạo dẫn” là
thể thao thể dục, các loại hoạt động làm cho giãn gân cốt, bắp thịt được cứng
rắn, thân thể được kiện toàn.
• “Luyện khí” là
phương pháp thở hít không khí đúng cách, thở ra hết chất hơi đã bị phổi thải
hồi, hít vô không khí mới để giúp cơ thể lọc máu.
Hai cách nầy ngày
nay ai năng chăm chỉ thực hành thì sẽ có sức khỏe lâu dài diên niên ích thoÏ,
trẻ trung thoải mái.
8. Đồng hương với
Vương Chân có Diệc Mạnh Tiết thực hành phép ngưng thở, ông ngồi yên tạm ngưng
hô hấp, thân mình bất động trong khoảng 100 ngày. Điều nầy phù hợp với những
khám phá về thuật du già ở Aán Độ, có loại khiến cho người luyện tập có khả
năng “công đông miên”, ngủ trong mùa đông, lúc đó hô hấp thật chậm nhẹ nhàng
như gần đứt, động mạch đập rất khẽ cơ hồ như không còn nữa, Những người nầy có
thể chôn mình trong hầm sâu dưới đất không ăn trong vòng một tháng mà không
nguy hiểm gì đến tính mạng bởi vì chính họ hít thở thật ít không khí, uống một
số lượng cực nhỏ nước và tiêu thụ một phần nhỏ thể lực của họ để bù trừ.
9. Người xưa dùng phương pháp hô hấp ép bụng
phối hợp với phép thực tiếp để trừ căn bệnh già nua suy nhược, bệnh áp huyết
cao và táo bón.
Họ còn dùng khí công để trừ bệnh thần kinh suy
nhược, bệnh đau bao tử và bệnh kết hạch. Hai phép dưỡng sinh nầy chẳng qua là
ngồi yên hô hấp (phép tĩnh tọa trong võ thuật)
10. Thái cực
quyền và Bát đoạn cẩm
• “Thái cực
quyền” là do Hoa Đà quan sát ngũ cầm mà đặt ra. Thái cực quyền gồm 24 động tác.
Tuy các động tác thay đổi nhưng từ động tác nầy sang động tác kế tiếp không đứt
đoạn mà là các động tác liên tục của nhau, biến chuyển tương hợp từ từ mà
thành, rất ích lợi cho sự luyện tập thân thể nhất là khi hơi có tuổi.
• “Bát đoạn cẩm”
cũng tương tự như thế. Các yếu tố luyện tập là tập trung ý chí, thống nhất tinh
thần để điều hòa hô hấp, tuy toàn than vận động nhưng phải giữ phịp thở sao cho
tự nhiên, nhẹ mà sâu. Mỗi ngày càng tập hít thở sâu càng tốt.
Cả hai phép thể
dục phịp điệu nầy dùng phòng ngừa và trị các chứng áp huyết cao, tinh thần khẩn
trương, đau bao tử bệnh tim và nhiều bệnh khác. Đối với hệ thống tuần hoàn và
hệ thống thần kinh, cơ quan hô hấp, cơ quan tiêu hóa cũng rất có hiệu quả.
11. Kinh Thái Cực
Quyền có ghi người luyện tập phải hô hấp do đan điền. Đan điền là danh từ dùng
trong khoa châm cứu chỉ một trong ba vị trí trong người. thứ nhất là trên đầu
(đại não), thứ hai ở hoành cách mô, thứ ba ở rốn. Căn cứ vào các sách vở của
đạo gia thì đan điền là chỗ trọng yếu nhất trong cơ thể con người. Vậy chữ đan
điền nói trong kinh Thái Cực Quyền là chỉ chỗ nầy. Khi hô hấp có thể để dưỡng
khí tồn trữ tại đây để duy trì “tâm bình khí hòa tình tự an định” (cái tâm hồn
được bình tĩnh, cái khí được điều hòa, cái dục vọng đầu mối của tình dục được
an định). Y giới Mỹ gần đây nghiên cứu về Thái Cực Quyền và Bát Đoạn Cẩm đều
công nhận khả năng làm cho tâm an và bình ẩn cái tình dục.
12. Phép hô hấp
đan điền được luyện tập dùng cho trường hợp phòng sự mà thiết giảm xuất tinh,
có mục đích điều tức dưỡng khí tăng gia khí lực trong trường hợp bất lực hành
sự.
Nội dung hô hấp
đan điền người xưa có ghi lại trong sách. Trang Tử có nói: “Chân nhân hô hấp
thâm nhập cước, phàm nhân hô hấp tiển tại hầu” nghĩa là bậc chân nhân hít thở
không khí vô đến chân, người thường chỉ hít thở được không khí vô đến họng mà
thôi. Đại ý khuyên luyện tập hít thở không khí mới để bài trừ mệt mỏi trong
người
13. Đời Động Tấn
có người Cất Hồng đề xướng lối “thai tức” nghĩa là thở như thai nhi trong bụng
mẹ, thở bằng mũi, không thở bằng miệng, hgít vào thật lâu sau mới từ từ thở ra.
Cát Hồng khuyên sau khi hít vào phải đếm đến 120 tiếng mới từ từ thở ra mà số lượng
không khí thở ra phải ít hơn số lượng không khí hít vào có như vậy không khí
trong lành mới tòn tại trong thân thể. người siêng năng luyện tập có thể kéo
dài thời gian giữ hơi trong bụng đếm đến 1000 mới phải thở ra. Ai luyện đến mức
nầy có thể phản lão hoàn đồng, vĩnh bảo thanh xuân không bao giờ già.
14. Phép thai tức
là phương pháp giảm bớt thở ra thán khí, tích tụ dưỡng khí trong cơ thể, phù
hợp với quan điểm y học ngày nay Áp dụng nguyên tắc nầy trong việc phòng sự là
cách giữ lại không cho xuất tinh bằng cách hít hơi thật dài vô phổi nìn hơi
thật lâu mới thở ra tư từ. Lám như vậy nhiều lần khi thấy mình sắp bắn tinh. Ở
Trung Hoa có thuật “thái âm bổ dương” tức thâu lượm âm khí để bổ cho dương khí
và “thái dương bổ âm” là nguyên tắc áp dụng cho nữ nhân sẽ bàn đến ở những
chương kế tiếp.
15. Nam nhân không
thể lãng phí tinh dịch của mình, mỗi lần xuất tinh là mỗi lần phải có hiệu ích.
Khi nữ nhân lên đến cực độ khoái lạc thì âm hộ sẽ có sức hút rất mạnh, quy đầu
của nam rất khó lòng mà cưỡng lại để rút ra, lúc đó âm đạo sẽ hút tinh dịch của
nam nhân vào cơ thể của nữ nhân để sau đó biến thành tinh dịch của nàng.
16. Cổ truyền ở
Trung quốc có phương pháp luyện tập gọi là “tiểu châu thiên” là khi ngồi yên
tĩnh tọa dương khí từ đan điển (chỗ rốn), tiến lên hội âm (giữa cơ quan sinh
dục và bàng quang) xuyên qua giáp-suy (giữa xương sống) vào ngọc-chẩm (sau ót)
tới nê-hoàn (đại não), xuống đài trung (giữa hai vú) trở về lại đan điền là
xong một quá trình. Cứ như vậy mà điều khiển dưỡng khí chu du, công phu nầy
phải luyện đến hai ba năm mới xong. Nam nhân đạt được pháp môn “tiểu
châu thiên” khi giao hợp dương cụ và âm hộ phối hợp với nhau mà thực hiện quá
trình tiểu châu thiên. Nữ nhân trong lúc tuyệt hứng, nguyên khí bị hút sẽ phần
khoái lạc không bao giờ nghĩ đến chuyện chia tay.
Tố Nữ khi nói về
luyện tập thứ phương pháp tuyệt diệu nầy có bảo phải phối hợp với phương pháp
đạo dẫn, cả hai phối hợp sẽ giúp cho nam nhân đạt được mục đích hoàn tinh.
17. Trong quyển
“Ngọc Phòng Bí Quyết” có nói nếu đàn ông tập luyện được cách hô hấp đằng bụng,
cho không khí vào sâu tới bụng (thật ra là hít thật nhiều hơi) thì sẽ tăng thể
lực và trì lực (sức chống chỏi), khi giao hợp chống lại xuất tinh chỉ cần hít
hơi dài vào đan điền đếm từ một đến 30 mới thay hơi khác, như vậy dương cụ sẽ
cương cứng lâu hơn và chống chỏi lại khuynh hướng xuất tinh. Cho có hiệu quả
hơn, áp dụng thêm phương pháp “tử vãn sinh lai” đã nói ở trên nghĩa là khi
cương cứng quá phải rút ra, đợi hơi xìu xuống mới tiến hành trở lại.
18. Nữ nhân có
phương pháp “hành khí” do nàng Triệu Phi Yến đời hán truyền lại. Nàng luyện tập
bằng cách lấy dây lụa cột ngang lưng và tập chuyển động phần từ eo xuống mà
phần trên không cần chuyển động.
Sau đó nàng dùng
thuật “bế khí chỉ tức” nín thở một hơi thật lâu. Với phương pháp hành khí, nữ
nhân có thể co rút bóp mở âm hộ khiến dương vật cảm thấy sung sướng tuyệt đỉnh
và từ đó rùng mình bắn tinh.
Công dụng của phương pháp nầy là làm cho dương
vật được bóp chặt, nam nhân cảm thấy nữ nhân như mới, bóp, từ đó không thể
cưỡng nỗi chuyện xuất tinh. Sách “Hương Muội” nói rõ ràng hơn về phương pháp co
bóp nầy. Khi tiến hành giao hợp phải có thứ tự: khi thằng nhỏ tiến vào thâm
cung, cửa thâm cung phải mở ra đón chào. Khi chàng đã vào đến nơi thì cửa thâm
cung đột nhiên đóng lại ôm chặc chàng, như mừng rỡ. Quá trình
đâm vô rút ra của dương vật được quá trình mở
bóp của âm hộ phối hợp
tạo cho nam nhân cảm giác tuyệt vời.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét