Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn Bí kíp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bí kíp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 8 tháng 4, 2013

Gái làng chơi dùng chiêu bùa ngải để 'giữ khách'


Các cô gái mại dâm đang truyền tai nhau về một vài loại Bùa ngải để "giữ khách" như: Bùa Yêu, Bùa Nhớ, Bùa Điên...

Không yêu thì đã có...bùa
Sử dụng các loại bùa này các cô cho rằng sẽ khiến khách chỉ biết đến mình.
“Nếu người đó làm em cảm thấy yêu thương thì em sẽ có cách làm cho người đó tự động theo em đến khi nào em chán thì thôi...”, Vân, một cô gái kỳ công lên tận Hòa Bình xin bùa yêu về "hành nghề" tâm sự.
Con đường nào đưa em đến đây?(ảnh minh họa)
(Ảnh minh họa)
Một cô khác tên Y hoạt động thường xuyên ở khu vực Trần Duy Hưng cũng kể rất "liêu trai": “Cách đây một năm bạn em người Lào Cai, vào nghề được mấy tháng thì bị một tên ma cô suốt ngày hành hạ. Bạn em ức chế quá thế là bỏ Bùa hắn rồi chuyển vô nam làm ăn, hắn bây giờ suốt ngày cứ lang thang chửi bới lung tung.”
Bùa ngải được gái làng chơi sử dụng (anh minh họa)
Theo lời kể của các cô thì Bùa ngải được mang về Hà Nội từ các gái mại dâm vùng cao có nguồn gốc là người dân tộc.

Thứ Năm, 11 tháng 10, 2012

Tú bà dạy nghề cho Thúy Kiều

Ở đời có hàng trăm nghề. Không hiểu các cụ xưa đã thống kê chưa mà gọi làbách nghệ? Mà trong cái bách nghệ ấy, các cụ có ghi vào danh mục nghề làm đĩ? Cái nghề mà Thúy Kiều mới nghe nói đã thẹn thùng. Cụ Nguyễn lại đánh giálạ lùng, khắt khe (khắt khe: cái nghề bị bắt buộc hành hạ người ta – Đào Duy Anh). Đã nói đến nghề nghiệp tức đòi hỏi phải có chuyên môn, nếu không có lí thuyết chí ít cũng phải thuộc lòng những động tác cơ bản.
Nguyên truyện, TTTN cho Thúy Kiều thắc mắc: “Ăn nằm thì cũng ăn nằm như thế, chẳng lẽ lại còn kiểu cách gì nữa?”.
Cũng lạ lùng thay, Tú bà phải nhân buổi nguyệt sáng, gương trong, cái đêm thanh tịnh, bầu trời trong sáng mụ mới truyền nghề cho Thúy Kiều. Nguyễn Du muốn dùng nghệ thuật đối nghịch: Chuyện bẩn thỉu, hèn hạ với trời trong trăng sáng? Hay mụ đĩ già nọ nói đến chuyện ấy thấy thú vị cần nhẩn nha, nhấm nháp, tận hưởng? Nếu cụ Nguyễn viết: Phải đêm mưa gió ào ào thì xô bồ, vội vã và cơ hồ thiếu sự trân trọng, tề chỉnh cần thiết (Vì với mụ Tú đây là việc làm thiêng liêng gắn bó với doanh thu của mụ). Ta cũng tìm thấy mấy dòng thơ mở đầu nghe chừng chậm rãi, thong dong: Vừa tuần nguyệt sáng gương trong/ Tú bà ghé lại thong dong dặn dò/ Nghề chơi cũng lắm công phu/ Làng chơi ta phải biết cho đủ điều. Mở đầu như vậy làm sao Thúy Kiều không thắc mắc, lạ lùng? Mụ Tú giải thích: Mụ rằng: Ai cũng như ai/ Người ta ai mất tiền hoài đến đây? Thì ra mấu chốt là ở chỗ ấy. Ba chữ ai chỉ ba đối tượng. Chữ ai thứ nhất chỉ vào chị em đã quen sống chốn thanh lâu, chữ ai thứ hai chỉ Thúy Kiều hay những cô gái lương thiện chưa bước vào ngưỡng của thần Bạch Mi. Đó là một chân lí, ai cũng như ai! Vậy muốn cho ai (chữ ai thứ ba) tức khách làng chơi đến tất phải có gì lạ, có gì hấp dẫn, thú vị: Ở trong còn lắm điều hay/ Nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng chung (khép mở ở đây là khép mở cửa đón khách và đưa khách. Riêng của mình và chung với người khác…). Rõ ràng, chuyện không đơn giản thế. Thế giới thanh lâu như mở cửa cho Thúy Kiều đón nhận những điều mới lạ. Và đây mới là lạ nhất, mới nhất: Này con thuộc lấy làm lòng/ Vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề. Ý Tú bà muốn nói: Ta nói những điều khác, con chỉ nghe để biết. Riêng bảy chữ, tám nghề con phải ghi tâm, phải thuộc kỹ lưỡng.
Tất nhiên cụ Nguyễn đã bỏ đi việc giảng giải bảy chữ, tám nghề ấy. Đó là những cách làm giả dối cho ra sự thương yêu, để quyến luyến lòng khách (Tản Đà). Thật ra cụ Tản chú như vậy xem ra chỉ nói cái đích cần có chứ nguyên truyện bày vẽ kỹ càng lắm!
Và, nếu như Thúy Kiều (cũng như bao cô gái chốn thanh lâu) thuộc lòng và áp dụng đúng bài bản thì cuộc tình sẽ: Chơi cho liễu chán, hoa chê/ Cho lăn lóc đá cho mê mẩn đời (Hai chữ chán chê cụ Nguyễn đã tách từ tạo hai vế đối nhau tả cảnh ái ân lu bù, thỏa sức). Chuyện ân ái, tình cảm không chỉ diễn ra lúc cao trào ấy mà còn biết kéo dài cái sự thích thú: Khi khóe hạnh, khi nét ngài/ Khi ngâm ngợi nguyệt, khi cười cợt hoa… Hai chữ khóe hạnh các cụ xưa giải thích chưa thống nhất. Cụ Bùi Kỷ, cụ Đào Duy Anh cho đó là khóe miệng tươi như hoa hạnh, khóe hạnh đi với nét ngài là miệng cười tươi, mắt liếc đưa tình. Riêng cụ Văn Hòe viết: “Người ta thường nói khóe mắt, không nói khóe miệng bao giờ.Cung oán ngâm khúc có câu: Khóe thu ba dợn sóng khuynh thành”. Cụ Văn Hòe kết luận: “khóe hạnh là khóe mắt: mắt sắc như lá hạnh”.
Giải thích theo cách nào cũng là sự đa tình, đắm đuối được diễn theo với cuộclăn lóc đá ở trên. Mà xem trong nguyên truyện, không thấy có chi tiết này. Thúy Kiều nghe xong Tú bà giảng bảy chữ, tám nghề nói: “Té ra như thế! Con xin lĩnh hội cẩn thận”. Cụ Nguyễn thêm mấy câu thơ, thêm mấy ý mới biết cụ tinh đời lắm!

TỐ NỮ KINH (phần 8)

TOA THUỐC TRỪ BỆNH LUÔN LUÔN ĐÒI HỎI XÁC THỊT
Khi hoàng Đế hỏi về toa thuốc trị bệnh cho một người luôn luôn đòi hỏi xácthịt, không bao giờ thỏa mãn. Tố Nữ kể câu chuyện như sau: “Có một nữ nhân tuổi đã 30 nhưng việc tình dục đòi hỏi như thiếu nữ mới ngoài 20. Nàng luônluôn cần gần gũi đàn ông, không có dương khí trong mình thì nàng không saochịu được, âm hộ nước nôi dầm dề nhiều khi chảy ra ướt cả quần.”Lý do có sự kiện này là vì trong âm hộ của nàng có một loại trùng làm tổ. Đólà loại trùng thật nhỏ (cở 3 phân Tàu), hình đuôi ngựa. Trùng này có 2 loại, đầuđỏ và đầu đen. Loại đầu đỏ không linh hoạt bằng loại đầu đen.Trị bệnh này thỉ dung phương pháp như sau: Dùng bột mì nấu chín, vo thành
một vật giống như dương cụ lớn nhỏ tùy theo ý thích của bệnh nhân, chế vô đó một ít nước tương, đâm vô đâm ra nơi âm hộ đến một lúc thì các con trùng đócũng theo ra. Cứ tiếp tục như vậy như là giao hợp với nam nhân, tới khi lấy hếttất cả trùng ra. Thường trùng này làm tổ thì độ 30 con trong một âm hộ.
GHI CHÚ:
1. Chuyện của Tố Nữ khó tin nhưng cũng chẳng qua chỉ là cach thỏa mãndục tình của nữ nhân với lời tư an ủi rằng đó là một phương thức chữabệnh xấu của mình mà ngày nay phụ nữ Tây phương thường dùng với
dụng cụ tương tự.
2. Ngày nay các bệnh về tình dục không thỏa mãn có 2 loại:
• Đàn bà mắc bệnh đòi hỏi không bao giờ biết thỏa mãn và lãnh cãm.
• Đàn ông tảo tinh (xuất tinh quá sớm tức là khóc ngoài quan ải) và vônăng (bất lực, không làm nên trò trống gì).
Cả 4 trường hợp đều là bệnh này tương phản với bệnh kia ở trong mộttính phái. Bệnh sanh ra do việc giao hợp quá mạnh bạo, gấp rút mà ra.

TỐ NỮ KINH (phần 7)

SỐ LẦN XUẤT TINH VÀ CÁC THUỐC TRỊ LIỆU
Hoàng Đế hỏi: “Nguyên tắc giao hợp theo Tố Nữ là ái tinh, thương quý cái tinhkhí của mình, mà tránh xuất tinh, vậy thời khi muốn có con thì phải làm nhưthế nào?”
Tố Nữ đáp: “Người ta thân thể cường nhược khác nhau, niên tuế cũng trẻ giàkhác nhau cho nên người ta phải tùy theo khí lực của mình mà giao hợp, khôngđược cưỡng quyết (bắt ép thân thể mình làm quá sức chịu đựng của nó), cượngquyết tất tổn hại đến thân.”
Tốt nhất là:
• Ở vào tuổi 15 mà khí lực dồi dào mỗi ngày giao hợp và có thể xuấttinh hai lần, ốm yếu thì mỗi ngày một lần thôi.
• Ở tuổi 20 cũng vậy, không nên nhiều hơn, nghĩa là mạnh mẽ thì mộtngày hai lần, trong mình không được khỏe thì mỗi ngày một lần.
• Ở tuổi 30 mà khỏe mỗi ngày một lần, người ốm yếu thì hai ngày mộtlần.
• Ở tuổi 40 mà khỏe mạnh thì ba ngày một lần, người ốm yếu thì bốnngày một lần.
• Ở tuổi 50 thì năm ngày một lần nếu khỏe mạnh, ốm yếu thì mườingày một lần.
• Ở tuổi 60 mà khỏe mạnh thì cỡ mười ngày một lần, ốm yếu thì haimươi ngày một lần.
• Ở tuổi 70 mà khỏe mạnh thì mỗi tháng một lần, ốm yếu thì nênkiêng cữ không nên xuất tinh.

TỐ NỮ KINH (phần 6)

THẾ GIAO HỢP CƠ BẢN
Chương này nói về các vị thế cơ bản khi giao hợp. Cũng là đại khái ba mươi vịthế cơ bản, những biến thể nho nhỏ không được kể như một vị thế,
NAM THƯỢNG VỊ (Nam nhân ở trên)
1. CHÍNH THƯỜNG VỊ (Vị thế cơ bản)
Nữ nằm ngữa, hai chân dang ra, không cần bẹt lắm. Nam nhân nằm sấpbên trên. Hai đầu gối và hai cùi chỏ chống lên giường để nâng đỡ sứcnặng khỏi đè lên bạn ngọc. Vị thế này căn bản là hai đùi nam nhân ởgiữa hai đùi của nữ nhân.Vị thế phía trên của nam nhân là vị thế nắm quyền chủ động thỏa mãnlòng tự tôn và cảm thức ưu việt của nam nhân. Vị thế này cũng thỏamãn lòng khao khát được vỗ về ôm ấp, bảo vệ của người nữ.Trong vài trường hợp đặc biệt nếu dương vật dễ bị trật ra khi đâm vô rútra thì nữ nhân nên kê một cái gối phía dưới mông để thay đổi vị thế củaâm đạo.
Đây là kiểu phổ biến nhất, chính thức từ đó biến thái thành nhiều kiềukhác nhau. Tư thế này tự nhiên nhất vì khi đến tuyệt đỉnh của sự thốngkhoái thì nam nữ ai cũng có khuynh hướng ôm choàng xiết mạnh ngườibạn mình. Vị thế này thích hợp nhất cho sự cho sự ôm xiết đó.
Khuyết điểm của vị thế này là không áp dụng được đối với người códương vật ngắn vì rất dễ trượt ra ngoài, cũng không dùng được đối vớingười nam quá mập vì không đút vào sâu trong động tiên được. Nữnhân khi có thai bụng đã nổi lên thì tránh dùng lối này, dễ động thai vìbị đè nặng vì khi quá sướng người nam không còn nhớ để tránh.

TỐ NỮ KINH (phần 5)

CÁC PHƯƠNG THỨC YÊU NHAU CHO KHOẺ MẠNH CƯỜNG TRÁNG (Các phương thức yêu nhau để chữa trị cho nhau khỏi tổn thương, bệnh hoạn)
Ngoài chín phép hay tư thế đã được lược trình ở trên còn tám phép làm chothân thể thêm cường tráng, bách bệnh tiêu trừ gọi là “Bát Ích” – tám điều lợiích – lại có bảy phép gọi là “Thất Tổn” – bảy thứ suy kém – để chỉ bảo cho
nam nữ cách chữa trị căn bệnh làm suy mòn thân lực. Tất cả những phép trênđều căm cứ vào mục đích làm cho âm dương điều hòa, dụng kỹ thuật tính giaomà làm cho nam nữ được thú sướng kiên cố mà trị bệnh và cầu mạnh khỏesống lâu.
Căn cứ vào Đông Y, phân thành nội ngoại thì bên trong con người ta có ngũtạng và đó là gốc rễ để cho ngoại hình (dáng dấp bên ngoài) của ta phát triển.Cả hai nội ngoại bổ cứu, điều hòa thì thân thể ta sẽ được cường tráng, vô bệnh,sống lâu.
Trong sách “Hoành Đế Nội Kinh Tố Vấn” có nói rằng: “Tâm khỏe thì máu đỏtươi nhuận, Phổi khỏe thì da mở, lông trơn, Gan khỏe thì gân mạnh, móngchân cứng rắn; Tỳ khỏe thì thịt dai, môi đỏ, Thận khỏe thì xương thẳng chắc,tóc râu rậm mướt”.
Bát Ích Pháp chính là để giúp cho Tâm, Phế, Can, Tỳ, Thận bổ khỏe ngõ hầucon người ta được vui hưởng cái sức mạnh, sự bền bỉ sáng suốt mà ngũ tạng đãlà nguyên động lực. Tư thế nam nữ áp dụng trong Bát Ích Pháp này cũng là do”Chín Thế” đã trình bày ở trên mà biến hóa ra và có nhiều phụ thế nằm nghiênghơn là ở các “thế mẹ” nguyên thủy. Người nữ trong “Bát Ích Pháp” thường phảico đầu gối, dạng đùi ra lưng phải dẻo để xoay chuyển hợp tác vận động. làmcho đung thì lợi ích vô kể, có thể nói rằng kéo dài được thời thanh xuân và tớigià vẫn thiếu tráng.

TỐ NỮ KINH (phần 4)

TRẮC ĐỊNH TÌNH CẢM
Đáp lại câu hỏi của Hoàng Đế: “Sao mà biết được lúc nào nữ nhân ham muốn,lúc nào nữ nhân khoái cảm?”
Huyền Nữ nói: “Có thể trắc định tình cảm của nữ nhân qua những nhận xétsau đây mà ta có thể mệnh danh là:
• Ngũ chứng.
• Ngũ dục.
• Thập động.
NGŨ CHỨNG:
1. Nếu thấy gò má nữ nhân ửng hồng thì nam nhân có thể sắp sẵn tư thếđể đột nhập xuân cung.
2. Nếu thấy đầu nhũ hoa căng cứng, dưới mũi xâm xấp mồ hôi, thì namnhân có thể bắt tay vào việc.
3. Nếu thấy nữ nhân môi se, miệng khô, miệng nuốt nước bọt, nam nhânhãy hoạt động mạnh bên ngoài cửa xuân cung.
4. Nếu thấy nữ nhân âm đạo trơn hoạt, nam nhân có thể đưa dương cụ vàothẳng cung vi.
5. Nếu thấy nữ nhân xuân thủy tràn ra cả cửa cung, nam nhân hãy thu binhhưu chiến.
NGŨ DỤC:
1. Người nữ lúc được người nam ôm trong tay, thần thái tỏ ra mê mẩn đờđẫn.
2. Lúc âm hộ được mân mó, hai lỗ mũi nở rộng cùng lúc mồm miệng hehé ra, hơi thở hổn hển, dồn dập.
3. Lúc âm dịch tiết ra, rùng mình muốn ôm chầm lấy nam nhân.
4. Lúc đạt đến khoái cảm cao độ, mồ hôi ra đẫm lưng.
5. Lúc ấy sướng khoái nhất như được đằng vân giá vũ, thân thể nằm ườnra để hưởng thụ khoái cảm đang lan tràn khắp thân thể.

TỐ NỮ KINH (phần 3)

TƯ THẾ VÀ TÌNH THÚ (Hoàn cảnh và hứng thú)
Hoàng Đế nói: “Nguyên tắc tiết độ trong việc nam nữ giao hợp là nguyên tắc nào?”.
Tố nữ đáp: “Nam nữ giao hợp là thuận theo căn bản âm dương của trời đất. Nhưng không nên để lệch đi khiến cho nam nhân càng ngày càng suy hoại than thể trong khi nữ nhân được bách bệnh tiêu trừ. Đôi bên phải thân tâm sướng khoái, thân cường khí thạnh, mạnh mẽ sung khí mới là nguyên tắc. Nếu không theo đạo âm dương thì thân thể ngày càng suy vi. vì vậy các yếu tố căn bản của giao hợp là:
• An định sự háo hức.
• Tâm trạng hứng thú.
• Tinh thần sung mãn.
Khi đã có đủ ba thứ nầy tức là tập trung được tinh khí thần thì tự nhiên không còn sợ nóng lạnh, không quá no không quá đói. Khi thân thể khỏe khoắn, tình tự tự nhiên nổi lên, đó là chuyện bình thường. Khi giao tình, phải từ từ mà tiến hành, giữ ba nguyên tắc trên thì tinh lực của nam nhân không bị suy nhược, khoái cảm của nữ nhân lên đến cực điểm”.
GHI CHÚ:
1. Tố Nữ vạch cho Hoàng Đế biết đạo giao hợp là phải điều hoà và an dưỡng thân tâm. muốn vậy phải học cách và chuẩn bị có phương pháp, bởi vì khi lâm trận mà tình tự an định (không có tâm trạng quá bồn chồn háo hức), tâm trạng hứng thú không miễn cưỡng, tinh thần khỏe khoắn sung mãn thì bên ngoài và bên trong đều mạnh, không thể nào
mà bại trân được.
2. Sách vở xưa của người Do Thái cũng có nói chuyện đưa đến hứng thú gối chăn: “Nếu vợ chồng tương thân tương ái thì dầu cho giường chật ngủ cũng thoải mái vui thú. Nếu phu phụ bất hòa dầu cho giường rộng bao la vẫn thấy chật hẹp tù túng”. Điều nói trên cốt nhắc nhở gái trai trong đời sống vợ chồng tạo nên “tâm bình khí hoà”, thanh thản, hòa
thuận, vui vẻ.

TỐ NỮ KINH (phần 2)

BỔ THẬN VÀ CƯỜNG DƯƠNG (Nhiếp bồ và cường tinh)
Tố Nữ nói: “Có một người con gái tên Thái Nữ rất thâm hiểu đạo âm dương”, Hoàng Đế sai Thái Nữ đi mời Bành Tổ cho mình thỉnh giáo về phương pháp diên niên ích thọ (sống lâu).
Bành Tổ trả lời: “Giữ tinh khí, thu dưỡng tinh thần. Uống các thứ thuốc bổ dưỡng thì có thể trẻ mãi không già. Tuy nhiên nếu đã có ba thứ trên mà không biết cách giao hợp cho phải phép thì cũng vô ích thôi. Đạo giao hợp là hợp thành nhất thể với người giao hợp. Xem kìa trời đất liền nhau thành nhất thể nên mãi mãi trường tồn. Con người cũng vậy, không khác gì. Nếu không biết nguyên tắc đó thì bị thương thân bại thể có khi còn táng mạng nữa”.

GHI CHÚ:
1. Hoàng đế vì trăm công ngàn việc nên người đã mệt mỏi. Thêm chuyện tửu sắc nên thần kinh không nhiều thì ít bị suy hoại, luôn luôn cảm thấy như mình đang mang bệnh. Để cho Hoàng Đế tin tưởng thuốc thang công dụng, các y sư trong triều mới bàn nhau đi mời Bành Tổ tiên sinh là một vị triết nhân thông hiểu thuật dưỡng sinh. Tương truyền Bành Tổ tiên sinh rất thọ và dùng phương pháp nhiếp bổ (dùng thuốc bổ) và cường tinh (làm cho tinh khí mạnh hơn, cường dương) nên khi đã già mà vẫn thấy như thanh xuân và khí thế giao hợp vẫn không giảm.
2. Thái Nữ, như Tố Nữ, là người con gái thật đẹp lại thấu hiểu các phương cách phòng sự. Những điều chỉ dạy của bà ta rất ích lợi cho cuộc dưỡng sinh và đời sống chăn gối.
3. Sách “Liệt tiên toàn truyện” có ghi lại truyện Thái Nữ vâng lệnh của vua Chân Mục Vương (976 tr. Công nguyên) đi hỏi Bành Tổ tiên sinh về bí thuật phòng trung để về truyền lại cho vua. Từ đó về sau mục Vương là người hưởng được kết quả diệu kỳ của hành sự giao hoan theo đúng phương pháp.
4. Sách “Thập di ký” có ghi chuyện Vương mẫu xuống trần ăn ở cùng với Mục Vương của vùng Vị Châu thời Đông Tấn. Lúc nầy Mục Vương đã hơn 50 tuổi. Vương mẫu chỉ dẫn Mục Vương cách giao hoan và hai người đã hưởng một đêm sung sướng tuyệt trần. Sách có nói thêm là trong đêm dó Vương mẫu lấy ra trong âm đạo một “hạch tổ” bảo vương nuốt đi vì rất bổ cho việc dưỡng sinh và cường tinh. Sách y học Trung quốc có ghi là hạch nầy dùng chữa bệnh tạng suy, cải lão. Hạch còn trị được bệnh tinh thần không an định, giúp cho người bệnh cảm thấy an định thơ thới tâm hồn.

TỐ NỮ KINH (Phần 1)

cavelambao
Tố nữ kinh
Tình dục là bộ môn thuộc, chi phối và bao trùm ngũ dục, nhất là khi đã nhận thức rằng trong mọi bộ môn thuộc khoa học nhân văn, nó luôn hiện diện, ẩn hiện lung linh… càng làm chúng ta thêm khoan dung, tăng thêm hiểu biết. Mà biết thêm rằng cùng tột của tính dục lại là nghệ thuật kềm chế, thì đó là sự hành dâm cao thượng hơn hết thảy.
Các cảm quan đủ vẻ do ngũ dục đem lại, nếu hiểu là đáng buồn rầu, thì là buồn rầu thanh bai. Nếu hiểu (cuốn này) chỉ cốt viết ra để khuyến khích sự đắm đuối dục lạc thì đấy là loại dục lạc thô trọc. Tính dục được loài người nghiên cứu, viết ra, đã từng lưu hành ở khắp nơi, qua mọi thời đại như Kama-Sutra (Ấn Độ), Nhục Bồ Đoàn, Đạo Ma Mật ruyền, Ngọc Phòng Bí Kiếp (Trung Hoa), … thì độc giả sẽ không coi bản dịch này chỉ chứa hậu ý khuyến dâm.